Chào mừng đến với Nhà thuốc Quốc Dân. Kính chúc quý khách sức khỏe, vạn sự như ý!

Search

Trang web giao dịch đen nguy hiểm nhất nước Mỹ

Silk Road, trang web đen nguy hiểm nhất nước Mỹ

P'medic| 02/10/2023
Được vận hành bởi một chương trình ẩn nhằm giúp khách hàng đăng nhập và mua bán an toàn. Cho đến khi Silk Road bị Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) triệt phá, số lượng giao dịch của nó đã lên đến hơn 1,5 triệu người và gần 2 tỉ USD… Hơn 1,2 triệu giao dịch đen trong hơn 2 năm Sự việc khởi đầu từ giữa năm 2010, Ross Ulbricht, sinh năm 1984, đã lấy bằng thạc sĩ tại Đại học Pennsylvania, Mỹ, chuyên ngành Khoa học máy tính nhưng lại say mê lý thuyết kinh tế tự do. Đến tháng 2-2011, Ross cùng hai người bạn là Jones và Smedley khai sinh trang web Silk Road với lời tuyên bố: “Tôi tạo ra một mô hình để mọi người đều có thể trải nghiệm trực tiếp về những thứ mà chúng ta có quyền mua bán…”. Tuy nhiên, những thứ được Ross rao bán trên trang Silk Road lại là những thứ giết người. Nó bao gồm heroin, cocain, fentanyl, amphetamine, ma túy đá, cần sa, thuốc lắc… Khách hàng nếu muốn đăng nhập trang web này buộc phải mua một tài khoản và hàng tháng phải đóng phí. Mua xong, Silk Road sẽ cung cấp cho họ một phần mềm có tính năng che giấu tất cả mọi thông tin mỗi khi họ đăng nhập nhằm tránh sự theo dõi của các cơ quan chức năng như FBI, Cơ quan phòng chống ma túy Mỹ (DEA). Một người bình thường nếu vào trang Silk Road sẽ chỉ thấy nó quảng cáo khoảng 10.000 sản phẩm như quần áo, tác phẩm nghệ thuật, sách, thuốc lá, đồ trang sức… cùng những điều khoản công khai, chẳng hạn “không mua bán bất kỳ thứ gì có mục đích gây hại hoặc lừa đảo, bao gồm nội dung khiêu dâm trẻ em, thẻ tín dụng bị đánh cắp, vũ khí…” nhưng thực tế, 70% lượng hàng hóa bán online đều là ma túy được phân theo nhóm với các tiêu đề: Chất kích thích, thuốc gây ảo giác, tiền chất ma túy, ma túy đá, thuốc phiện, thuốc lắc, thuốc hướng thần và steroid. Bên cạnh đó, còn có bằng lái xe giả nhưng chỉ những thành viên có quyền truy cập mới vào được cái “chợ” này. Cũng nhằm tránh bị theo dõi, máy chủ của Silk Road được đặt ở Reykjavík, Iceland, còn Ross lấy bí danh (nickname) là Dread Pirate Roberts . Mọi giao dịch trên trang Silk Road đều được thực hiện bằng đồng tiền ảo Bitcoin chứ không dùng tiền mặt.
Ross Ulbricht, ông chủ của Silk Road.
Tháng 6-2011, những thông tin về Silk Road bắt đầu xuất hiện trên báo chí khiến nó trở nên nổi tiếng, dẫn đến lượng truy cập ngày càng tăng. Trước tình hình ấy, một thượng nghị sĩ Mỹ là ông Charles Schumer đã yêu cầu FBI và DEA phải đóng cửa nó. Việc đánh sập Silk Road khởi đầu vào tháng 2-2013, khi một gã buôn cocaine và MDMA (thuốc lắc) quốc tịch Australia trở thành người đầu tiên bị kết án vì những tội danh liên quan trực tiếp đến Silk Road. Khi khám xét nhà người này, cảnh sát phát hiện các tập tin trong máy tính xách tay chứng tỏ anh ta mua ma túy của Silk Road. Tháng 12-2013, cảnh sát Australia phối hợp với DEA bắt thêm một người New Zealand khi anh ta vừa nhận 15 gam chất ma túy Methamphetamine mua trên Silk Road. FBI thu được 11,02 Bitcoin - tương đương 814USD thời điểm ấy. Theo FBI và DEA, dựa trên dữ liệu thu thập được, từ ngày 3-2-2012 đến ngày 24-7-2012, ước tính khoảng 15 triệu USD giao dịch đã được thực hiện trên Silk Road. Nicolas Christin, chuyên gia nghiên cứu về Silk Road cho biết trong một cuộc phỏng vấn với trang tin Kinh tế Toàn cầu: “Sự gia tăng đáng kể về khối lượng từ 30 triệu đến 45 triệu USD chỉ trong một thời gian ngắn sẽ không làm tôi ngạc nhiên. Người mua và người bán thực hiện tất cả các giao dịch bằng đồng tiền ảo Bitcoin dưới hình thức ông A chẳng hạn, đặt mua Bitcoin tại một kênh đầu tư - dĩ nhiên là hợp pháp. Sau đó, ông A bán lại cho ông B - cũng là hợp pháp nhưng thục tế, số Bitcoin mà A bán cho B chính là số tiền phải trả để mua ma túy. Silk Road giữ Bitcoin của A thông qua tài khoản của B cho đến khi A nhận được hàng. Tuy nhiên, vào thời điểm A chuyển Bitcoin cho B, Silk Road sẽ kích hoạt cơ chế bảo hiểm rủi ro cho phép B giữ nguyên giá trị của đồng Bitcoin so với USD. Bất cứ sự thay đổi nào về giá Bitcoin xảy ra trong quá trình hàng chưa đến tay A, Silk Road không chịu trách nhiệm”. Vẫn theo FBI và DEA, từ ngày 6-2-2011 đến 23-7-2013, đã có 1.229.465 giao dịch hoàn thành trên trang Silk Road với sự tham gia của 146.946 người, trong đó 30% đến từ Mỹ, tiếp theo là Anh, Australia, Đức, Canada, Thụy Điển, Pháp, Nga, Ý và Hà Lan. Số còn lại khoảng 27% không khai báo địa chỉ. Cũng trong thời gian 60 ngày từ 24-5 đến 23-7, đã có 1.217.218 tin nhắn được gửi qua hệ thống riêng của Silk Road.
Thuốc lắc bán trên Silk Road với giá 0,69 Bitcoin 1 gam nhưng phải có tài khoản mới đăng nhập được.
Kiếm cả tỉ USD bằng bán ma túy qua web 3 giờ 15 phút chiều 2-10-2013, Ross Ulbricht, kẻ sáng lập Silk Road bị bắt khi đang ở trong thư viện Glen Park, thành phố San Francisco, bang California với những cáo buộc mua bán, vận chuyển chất ma túy, rửa tiền, xâm nhập mạng máy tính bất hợp pháp. Ban đầu, FBI thu giữ 26.000 Bitcoin từ các tài khoản của Silk Road, tương đương 36 triệu USD (thời giá 2013). Gần cuối tháng 10, FBI thu thêm 144.342 Bitcoin, trị giá 87 triệu USD. Việc bắt Ross cũng không đơn giản bởi lẽ Silk Road hoạt động trên nền hệ điều hành ẩn là The Onion Router. Đầu tiên, các chuyên gia máy tính của FBI phát hiện địa chỉ email của Ross trên trang web Gmail. Trong những email ấy, có một số tập tin được gửi đến một người tên là Altoid. Từ đó FBI biết Altoid đã từng đăng tải một bài viết trên một diễn đàn về đồng tiền ảo Bitcoin, đề nghị các chuyên gia trong lĩnh vực này gửi email cho anh ta theo một địa chỉ. Lần theo địa chỉ ấy, FBI thấy nó liên kết với nhiều tài khoản trên các trang Gmail. Youtube và Linkedin nhưng tất cả đều có cùng điểm đến là Silk Road. Và bởi vì mỗi lần online, Ross sử dụng giao thức VPN để che giấu vị trí của anh ta nên FBI phải xin lệnh tòa án, yêu cầu nhà cung cấp internet phải công bố VPN của Ross. Nó dẫn đến một quán cà phê internet ở San Francisco và cuối cùng là một thư viện ở khu phố Glen Park, nơi Ross bị bắt. Phiên tòa xét xử Ross bắt đầu vào ngày 13-1-2015 tại Tòa án Liên bang Manhattan. Trong phần thẩm vấn, Ross thừa nhận đã thành lập trang web Silk Road nhưng anh ta nói rằng đã chuyển quyền quản trị cho người khác ngay sau khi Silk Road ra đời. Bào chữa cho Ross, các luật sư cho rằng nickname Dread Pirate Roberts thực sự là của Mark Karpeles, và Karpeles đã lợi dụng Ross để thực hiện những hành vi phạm pháp. Tuy nhiên, thẩm phán Katherine B. Forrestra phán quyết, bác bỏ tất cả những lời bào chữa này Trong tuần thứ hai của phiên tòa, công tố viên đã trình bày các tài liệu và nhật ký trò chuyện từ máy tính của Ross, chứng minh anh ta trực tiếp quản lý Silk Road bằng phần mềm BitTorren nhằm che giấu tất cả mọi thao tác trên trang Silk Road cho cả người bán lẫn người mua ma túy. Khi FBI bắt Ross, máy tính cá nhân của anh ta vẫn đang chạy phần mềm này.
Ma túy của Silk Road gửi đến người mua qua đường bưu điện bị FBI thu giữ.
Ngày 4-2-2015, bồi thẩm đoàn kết án Ross với bảy tội danh, bao gồm “tham gia liên tục trong một doanh nghiệp tội phạm, buôn bán ma tuý, cố tình che giấu nguồn gốc thu nhập, rửa tiền và xâm nhập máy tính bất hợp pháp”. Hình phạt dành cho Ross là tù chung thân không ân xá. Điều đáng lưu ý là trong suốt thời gian diễn ra phiên tòa, thẩm phán Forrest nhiều lần nhận được những lời dọa giết. Trên một trang web có tên The Hidden Wiki, một kẻ nào đó đã đăng tải thông tin cá nhân của thẩm phán Forrest, bao gồm địa chỉ nhà riêng và số an sinh xã hội. Luật sư của Ross là Joshua Dratel tuyên bố ông và thân chủ của mình “lên án một cách mạnh mẽ các bài viết nặc danh liên quan đến thẩm phán Forrest”. Dratel nói: “Ross không dính líu gì đến trang web ấy và những bài đăng trên The Hidden Wiki không phản ánh quan điểm của anh ta”. Trong một bức thư gửi cho thẩm phán Forrest trước khi bị tuyên án, Ross nói rằng hành động của anh ta thông qua Silk Road là biểu hiện của chủ nghĩa kinh tế tự do, và: “Silk Road lập ra để mọi người có quyền lựa chọn cho riêng họ” nhưng Ross cũng thừa nhận “đã phạm phải sai lầm khủng khiếp, hủy hoại cả cuộc đời”. Ngày 29-5-2015, bồi thẩm đoàn Tòa án Liên bang Manhattan phán quyết Ross phải thi hành 5 bản án, trong đó có 2 án tù chung thân không ân xá, Ross cũng bị tịch thu 183 triệu USD. Đến ngày 31-5-2017, Tòa phúc thẩm bác đơn kháng cáo của Ross đồng thời Tòa tối cao cũng từ chối xem xét lại hồ sơ của Ross. Song song với phiên tòa xử Ross, tòa cũng đưa ra xét xử 2 đặc vụ liên bang có nhiệm vụ bí mật điều tra Silk Road. Một trong 2 người này là Carl Mark, nhân viên DEA, còn người kia là đặc vụ Shaun Bridges. Cả 2 đã nhận tiền của Ross để báo cáo sai lệch về các hoạt động của Silk Road. Trong số hơn 130 bị can bị FBI bắt giữ vì mua bán ma túy, rửa tiền, có tay buôn ma túy người Hà Lan Cornelis Jan "Maikel" Slomp, 23 tuổi, bị cáo buộc mua bán ma túy quy mô lớn thông qua trang web Silk Road và bị kết án 10 năm tù. Một kẻ khác là Steven Sadler bị kết án 5 năm tù. Bên cạnh đó, còn có 2 quản trị viên của Silk Road là Andrew Michael Jones và Gary Davis với các nickname “Inigo”, “Libertas”, cả hai cũng đều bị kết án tù. Một thời gian ngắn sau khi Silk Road sập sàn, trên mạng Internet bỗng xuất hiện trang web Silk Road 2.0, điều hành bởi nickname “Defcon”. Ngày 13-2-2014, Defcon thông báo rằng 2,7 triệu USD trong các tài khoản ký quỹ của Silk Road 2.0 đã bị đánh cắp nhưng anh ta hứa sẽ trả lại cho các chủ tài khoản toàn bộ số tiền này. Đến ngày 6-11-2014, FBI bắt được Blake Benthall, người điều hành Silk Road 2.0 dưới cái tên “Defcon” cùng một người Anh là Thomas White, kẻ đã khởi tạo trang web Silk Road 2.0 nhưng thông tin về vụ bắt giữ chỉ được FBI thông báo vào năm 2019. Chưa hết, nhằm mục đích “ăn theo” thương hiệu Silk Road, tháng 1-2015, Diabolus Market cho ra mắt trang web Silk Road Reloaded với các tính năng tương tự như Silk Road của Ross nhưng cũng đã bị FBI đánh sập. Ngày 3-11-2020, các đặc vụ của FBI chuyên theo dõi mảng tiền tệ phát hiện 2 giao dịch với tổng cộng 69.370 Bitcoin, trị giá khoảng 1 tỷ USD vào thời điểm ấy, được thực hiện từ một địa chỉ liên quan đến trang web Silk Road. Kết quả điều tra cho thấy số Bitcoin này thuộc về một cá nhân có nickname là “X”. người đã mua Bitcoin từ Silk Road trước khi nó bị đánh sập. Theo FBI, họ vẫn đang tiến hành điều tra về địa chỉ này để xem nó có phải là một Silk Road thế hệ mới hay không, hay chỉ là những vấn đề còn lại của Silk Road. Theo FBI Files

Cùng nhà thuốc Quốc Dân Hiểu đúng để tránh mất tiền oan tầm soát ung thư

Cùng nhà thuốc Quốc Dân hiểu đúng về Tầm soát ung thư có thật hiệu quả như quảng cáo?

Cầm bệnh án của người đàn ông 60 tuổi, bác sĩ Nam nói bệnh đã ở giai đoạn muộn, dù 6 tháng trước tầm soát và xét nghiệm cho kết quả bình thường.

Ngày 18/9, bác sĩ Hà Hải Nam, Phó trưởng Khoa Ngoại bụng 1, Bệnh viện K, cho biết đây là nạn nhân của các dịch vụ tầm soát ung thư đang được quảng cáo tràn lan. Hồi tháng 2, bệnh nhân thực hiện tầm soát như siêu âm, xét nghiệm chỉ điểm ung thư (tumor markers), kết quả bình thường.

Gần đây, người bệnh đi khám, phát hiện ung thư dạ dày giai đoạn muộn. Cầm bệnh án trên tay, bệnh nhân sốc, không tin vào kết quả, thậm chí oán trách bác sĩ. "Trường hợp này có thể do tầm soát chưa kỹ, không đầy đủ hoặc trình độ nhân viên y tế kém khiến người bệnh mất 'tiền oan' và bỏ lỡ thời gian vàng điều trị", bác sĩ nói, cho biết hiện tượng này không hiếm gặp.

Trường hợp khác, người nhà bệnh nhân mắc ung thư liên hệ bác sĩ Nam để được tư vấn xét nghiệm chỉ điểm tầm soát căn bệnh. Mong muốn của gia đình là loại trừ yếu tố nguy cơ cho cả nhà, tránh tâm lý thấp thỏm, sợ mang bệnh. Người này yêu cầu gói khám "ngon, bổ, rẻ", chỉ cần khám và xét nghiệm một lần. Bác sĩ từ chối, đồng thời khuyên gia đình cần tỉnh táo để không bị "lạc vào ma trận" những đơn vị kém uy tín đang bán các gói tầm soát tràn lan trên mạng.

Theo bác sĩ Nam, tầm soát ung thư nhằm phát hiện sớm bệnh ung thư trước khi triệu chứng lâm sàng xuất hiện. Để tầm soát, bác sĩ hỏi bệnh về tiền sử bản thân, gia đình đồng thời thăm khám lâm sàng và làm một số xét nghiệm. Tầm soát ung thư là cần thiết, nhất là khi căn bệnh ngày càng trẻ hóa và phổ biến trong cộng đồng đông.

Cùng với tim mạch, ung thư là bệnh có tỷ lệ mắc nhiều và tử vong cao. Ước tính hơn 300.000 người Việt đang sống chung với bệnh ung thư. Năm 2018 ghi nhận 165.000 bệnh nhân mới, năm 2020 con số này là 182.000, số tử vong 122.690. Ba loại ung thư thường gặp nhất là phổi, gan, dạ dày, đều là bệnh có tỷ lệ tử vong cao.

Lợi dụng điều này, nhiều đơn vị bán các gói xét nghiệm chỉ điểm, quảng cáo "phát hiện ung thư chỉ sau một lần thử máu". Song, về y khoa, "không có gói nào có thể phát hiện toàn bộ ung thư, đặc biệt là các xét nghiệm chỉ điểm", bác sĩ Nam khẳng định.

Ông Nam giải thích những xét nghiệm này chỉ đóng vai trò bổ trợ cho người đã được chẩn đoán mắc ung thư, do chúng có thể giúp ích trong việc theo dõi diễn tiến bệnh, xem các khối u có tái phát hay không. Nhiều trường hợp chỉ số tăng có thể nghi ngờ ung thư, song cũng có thể do bệnh lý khác. Đặc biệt, một số ung thư như dạ dày, đại tràng lại không khiến các chất chỉ điểm tăng. Điều này có thể dẫn đến tình trạng "an tâm giả tạo", khi một số người có chỉ số bình thường nên đã bỏ qua tầm soát bằng xét nghiệm phân, nội soi khiến bệnh phát hiện muộn.

Xét nghiệm chỉ điểm chỉ là một kết quả tham khảo, không thể khẳng định bệnh nhân có mắc ung thư hay không. Ảnh: Health

Xét nghiệm chỉ điểm chỉ là một kết quả tham khảo, không thể khẳng định bệnh nhân có mắc ung thư hay không. Ảnh: Health

Cùng quan điểm, bác sĩ Ngô Văn Tỵ, Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho biết xét nghiệm các chất chỉ điểm khối u trong máu đều không có cơ sở khoa học. Kết quả này chỉ mang tính tham khảo, không đưa kết luận rõ ràng bệnh nhân mắc bệnh. Lý do là xét nghiệm này chỉ áp dụng khi tầm soát trên người có nguy cơ cao hoặc được bác sĩ chuyên khoa chỉ định với người đang mắc bệnh để có phác đồ điều trị phù hợp.

Ngoài ra, xét nghiệm tràn lan còn gây tâm lý hoang mang hoặc yên tâm giả tạo cho người dân. Tuy nhiên, tình trạng này vẫn tràn lan và được nhiều người ưu tiên lựa chọn do giá thành rẻ, trả kết quả nhanh.

Một số phương pháp khác như siêu âm, CT (chụp cắt lớp vi tính) cũng không kết luận được bệnh nhân mắc ung thư. Việc chụp cắt lớp toàn thân nhằm tầm soát thậm chí gây hại sức khỏe, không nên lạm dụng. Tùy thuộc tình trạng sức khỏe và từng loại ung thư, bác sĩ có chỉ định tầm soát khác nhau.

Đặc biệt, sàng lọc ung thư luôn có sai số nhất định. Nguyên nhân có thể do bác sĩ thăm khám và tư vấn bệnh không tốt, không có kiến thức về sàng lọc ung thư. Máy móc, thiết bị kỹ thuật cũng có thể sai sót. Do đó, người dân nên lựa chọn cơ sở y tế uy tín, bác sĩ đúng chuyên ngành, điều trị nếu mắc bệnh và dự phòng bệnh.

Các bác sĩ khuyến cáo mỗi loại ung thư có phương pháp sàng lọc hoặc chỉ định riêng. Phụ nữ từ 40 đến 54 tuổi nên bắt đầu sàng lọc ung thư vú hàng năm bằng chụp X-quang tuyến vú. Từ 55 tuổi nên chụp X-quang tuyến vú hai năm một lần hoặc tiếp tục duy trì một năm một lần. Sàng lọc nên được kéo dài khi phụ nữ còn đủ sức khỏe và dự kiến sẽ sống thêm 10 năm nữa hoặc lâu hơn.

Từ 45 tuổi trở lên có nguy cơ mắc ung thư đại tràng nên được sàng lọc bằng xét nghiệm phân để tầm soát ung thư đại tràng, trực tràng và polyp. Từ 76 đến 85 tuổi, bác sĩ cân nhắc sàng lọc dựa trên tình trạng sức khỏe và nguyện vọng của bệnh nhân. Nhóm nguy cơ cao nên được kiểm tra thường xuyên hơn bằng nội soi đại tràng và bắt đầu kiểm tra ở độ tuổi sớm để phòng ngừa.

Đối với ung thư cổ tử cung, bạn nên xét nghiệm từ năm 21 tuổi. Từ 21 đến 29 tuổi nên xét nghiệm Pap ba năm một lần năm. Không nên sử dụng xét nghiệm HPV ở nhóm tuổi này trừ khi có kết quả xét nghiệm Pap bất thường.

Phụ nữ trong độ tuổi từ 30 đến 65 nên làm xét nghiệm Pap với xét nghiệm HPV 5 năm một lần. Sàng lọc ung thư phổi hàng năm bằng chụp CT liều thấp (LDCT) cho một số người có nguy cơ cao mắc ung thư phổi như trong độ tuổi từ 55 đến 74 và có sức khỏe bình thường, đang hút thuốc hoặc đã bỏ hút thuốc trong 15 năm.

"Báo tin dữ cho bệnh nhân là điều không hề dễ dàng, tuyệt đối không được cẩu thả, chủ quan và phải đặt mình vào địa vị người bệnh để biết mình nên làm gì cho đúng", bác sĩ nói.

Bác sĩ Tỵ phẫu thuật cho bệnh nhân vỡ khối u vú do đến viện muộn. Ảnh: Bác sĩ cung cấp

Bác sĩ Tỵ phẫu thuật cho bệnh nhân vỡ khối u vú do đến viện muộn. Ảnh: Bác sĩ cung cấp

cùng nhà thuốc Quốc Dân THỰC HÀNH LÂM SÀNG ĐÔNG Y PHÂN TÍCH CA THIỆT CHẨN 

THỰC HÀNH LÂM SÀNG cùng nhà thuốc Quôc' Dân

PHÂN TÍCH CA THIỆT CHẨN

Bệnh nhân nữ 32 tuổi, đến khám vì viêm cổ tử cung, sa tử cung _______________________ Chú ý: Tôi không thần thánh mạch và lưỡi. Tôi chỉ xem mạch và lưỡi cuối cùng sau khi đã khám và vấn chẩn. Trên lâm sàng thực sự phức tạp, tôi không khuyến khích các bạn chỉ dựa vào mạch, hoặc chỉ dựa vào lưỡi để kê đơn. Là bác sĩ hiện đại chúng ta nên có càng nhiều thông tin, các kết quả chụp chiếu xét nghiệm càng tốt. Chúng ta càng tiệm cận với nguyên nhân gây bệnh. Có rất nhiều trường hợp vì quá tự tin mà chỉ xem lưỡi hoặc chỉ mạch, rồi cuối cùng nói chả đúng triệu chứng nào, kê đơn cũng không hiệu quả gì. _______________________ Đầu tiên: Chất lưỡi bệnh nhân rất nhạt (bợt), thể hiện là dương hư, huyết hư. Vùng 1: Đầu lưỡi hình tam giác, thể hiện suy nghĩ nhiều, can khí không điều đạt. Vùng 2: Lưỡi rất mỏng, rêu lưỡi bong tróc. Lưỡi mỏng (cơ nhục) thuộc tỳ, Tỳ dương hư: Không muốn ăn, không ngon, đi ngoài phân sống, phân lỏng, nát, không thành hình. Vị khí hình thành rêu lưỡi, rêu không không đều -> Vị khí tổn thương: Không muốn ăn, ăn không tiêu hóa được, hay đầy bụng. Vùng 3: Vùng can đởm chất lưỡi nhạt hơn hẳn -> Can huyết hư, nhất định có vấn đề về kinh nguyệt. Đứng lên ngồi xuống sẽ chóng mặt, hoặc có thể trí nhớ giảm…. Vùng 4: Vùng tâm phế chất lưỡi rất nhạt và bị lõm xuống. Thể hiện Tâm huyết hư: là hồi hộp, sợ sệt, Tâm phiền mất ngủ hay mê, dễ sợ hãi, chóng quên, hoa mắt chóng mặt…. Tâm dương hư: hồi hộp, cảm giác vùng Tim như rỗng không, sợ sệt, khó chịu vùng ngực, thân thể tay chân lạnh, đoản hơi thở gấp, tự ra mồ hổi, sắc mặt trắng bệch, mỏi mệt yếu sức… Phế khí hư: ho suyễn đoản hơi, tiếng nói thấp nhỏ, tự ra mồ hôi, sợ gió, rất dễ cảm mạo…Phế chủ nhất thân chi khí, ở bệnh nhân này phù hợp với khí hư hạ hãm mà gây ra sa tử cung. _______________________ Nhiều như thế thì điều trị như thế nào. Nhiều như thế nhưng chung lại bệnh nhân được chẩn đoán là: Dương hư, Khí hư, Huyết hư Cơ thể là tổng hòa của các yếu tố. Nên trị pháp chung cho trường hợp này là: Ôn dương, Ích khí, Dưỡng huyết. Ôn thận dương hay tỳ dương? Ích thận khí, phế khí hay tỳ khí? Dưỡng tâm huyết, can huyết? Câu trả lời phụ thuộc vào thời gian làm lâm sàng của mỗi người, phụ thuộc vào sở học của mỗi người. Nếu là tôi thì tôi sẽ giai đoạn đầu sẽ là Ôn dương Ích khí. Giai đoạn sau mới Dưỡng huyết. Còn bạn?

Vân Nam Bạch Dược chữa nội thương cho rùa

Khách hỏi em mới biết Vân Nam Bạch Dược chữa được nội thương cho cả Rùa đấy ạ
Thành phần: Phương thuốc bảo mật quốc gia. Gồm Thảo ô và các thành phần khác.
Chỉ định: Hoạt huyết, làm tan máu tụ, giảm sưng & giảm đau.
Thuốc được sử dụng trong các trường hợp 𝒄𝒉𝒂̂́𝒏 𝒕𝒉𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈, đ𝒖̣𝒏𝒈 𝒈𝒊𝒂̣̂𝒑, 𝒃𝒂̂̀𝒎 𝒕𝒊́𝒎, 𝒔𝒖̛𝒏𝒈 đ𝒂𝒖, d𝒂̣̂𝒑 𝒎𝒐̂ 𝒎𝒆̂̀𝒎, 𝒈𝒂̃𝒚 𝒙𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝒌𝒊́𝒏, 𝒙𝒖𝒂̂́𝒕 𝒉𝒖𝒚𝒆̂́𝒕 𝒏𝒐̣̂𝒊 𝒕𝒂̣𝒏𝒈, 𝒉𝒐 𝒓𝒂 𝒎𝒂́𝒖, 𝒄𝒉𝒂̉𝒚 𝒎𝒂́𝒖 𝒅𝒐 𝒕𝒓𝒊̃, 𝒙𝒖𝒂̂́𝒕 𝒉𝒖𝒚𝒆̂́𝒕 𝒕𝒖̛̉ 𝒄𝒖𝒏𝒈, 𝒙𝒖𝒂̂́𝒕 𝒉𝒖𝒚𝒆̂́𝒕 𝒅𝒐 𝒍𝒂𝒐 𝒑𝒉𝒐̂̉𝒊,…𝒗𝒂̀ 𝒄𝒂́𝒄 𝒃𝒆̣̂𝒏𝒉 𝒏𝒉𝒊𝒆̂̃𝒎 𝒕𝒓𝒖̀𝒏𝒈 𝒏𝒈𝒐𝒂̀𝒊 𝒅𝒂
Chống chỉ định: Phụ nữ có thai.
Cách dùng:
- Huyết ứ sưng đau và chưa chảy máu: uống thuốc với rượu.
- Vết thương do dao cắt, đạn bắn, tai nạn bị chảy máu, bất kể vết thương nặng nhẹ, người bị xuất huyết uống thuốc với nước ấm.
- Bệnh phụ khoa: uống thuốc với rượu. Nếu rong kinh, chảy máu tử cung, băng huyết thì phải uống thuốc với nước ấm
- Mụn nhọt mới mọc: uống một viên nang và lấy một lượng thuốc trong viên nang khác trộn với rượu thành dạng sệt để đắp lên trên mụn nhọt.
- Với vết thương nhiễm trùng, mưng mủ: chỉ cần uống
Liều dùng:
- Người lớn: 4 lần x 1-2 viên/ ngày
- Trẻ em từ 2-5 tuổi: ¼ liều người lớn
- Trẻ em từ 5-12 tuổi: ½ liều người lớn.
Quy cách: Hộp 1 vỉ, vỉ 16 viên nang , mỗi viên 0,25 gam.
Hạn sử dụng: 60 tháng kể từ ngày sản xuất.
Nhà sản xuất: VÂN NAM BẠCH DƯỢC云南白药集团

Bài thuốc Đông y Trung Quốc hỗ trợ trị COVID-19

Thực hư bài thuốc Đông y Trung Quốc hỗ trợ trị COVID-19

P'medic| Bài thuốc Đông y của Bệnh viện Trung y tỉnh Hồ Bắc đã góp phần dập dịch COVID-19 có kết quả tốt. Chúng tôi xin phân tích nội dung, tác dụng và những lưu ý khi áp dụng bài thuốc này.

Bài thuốc gồm: sài hồ 20g, hoàng cầm 10g, toàn qua lâu 10g, binh lang 10g, pháp bán hạ 10g,thảo quả 15g, hậu phác 15g, tri mẫu 10g, bạch thược 10g, trần bì 10g, hổ trượng 10g, đảng sâm 15g, cam thảo 10g (theo quan điểm chúng tôi là vị cam thảo sống phù hợp với bài thuốc).

Tổng bài thuốc có 13 vị: Sài hồ: làm chủ dược. Sài hồ vị đắng tính hơi hàn, vào các kinh can, đởm, tâm bào và tam tiêu... Có tác dụng phát biểu hòa lý, giải cơ, sơ thông can khí. Trị chứng ngoại cảm, giải nhiệt, lợi tiểu, phát hãn. Nếu bệnh nhân mắc chứng âm hư hỏa vượng thì không được dùng sài hồ. Sài hồ - vị thuốc chủ dược của bài thuốc.

Sài hồ - vị thuốc chủ dược của bài thuốc.

Hoàng cầm: Vị đắng tính hàn vào các kinh tâm, phế, đại tràng tiểu tràng can đởm. Có tác dụng thanh hỏa trừ nhiệt. Điều trị các chứng: tả thực hỏa, thanh thấp nhiệt trị chứng cảm mạo, hoàng đản, đau bụng. Người tỳ vị hư hàn không có thấp nhiệt, không có thực hỏa không được dùng. Bán hạ chế: Vị cay tính ôn vào kinh tỳ, vị. Có tác dụng giáng nghịch, chống nôn mửa, tiêu đờm thấp, thông âm dương khí. Trị chứng ho có đờm, giáng khí nghịch. Toàn qua lâu: Vị ngọt đắng, tính hàn vào kinh phế vị đại tràng. Có tác dụng tả hỏa, nhuận phế giáng khí, tiêu đờm nhuận táo. Trị các chứng ho nhiều đờm, vị quản bí kết, vú ung nhọt, đại tiện táo bón. Người tỳ vị hư hàn đại tiện lỏng không được dùng. Thảo quả: Vị cay ngọt tính ấm vào kinh tỳ vị. Có tác dụng táo thấp trừ hàn trục đờm, làm cho tỳ vị mạnh, ấm trung tiêu giải độc. Phối hợp với vị binh lang, thường sơn trị chứng sốt rét, trị chứng đau bụng, giúp tiêu hóa tốt. Hậu phác: Vị cay đắng tính ôn vào kinh tỳ vị đại tràng. Có tác dụng giáng khí tiêu đờm, tiêu thực, lợi thủy. Trị chứng hoắc loạn kiết lỵ thổ tả, ngoại cảm do phong nhiệt... Người tỳ vị hư yếu, nguyên khí kém, phụ nữ có thai không được dùng. Tri mẫu: Vị đắng tính hàn vào kinh phế thận vị. Giúp bổ nhận thận thủy, tả hỏa hoạt tràng. Trị chứng âm hư táo hỏa, thanh nhiệt tiêu khát, đại tiện bí kết.Người tỳ hư đại tiện lỏng không được dùng.
Bạch thược: Vị hơi đắng chat chua vào kinh phế tỳ can. Có tác dụng thanh can tư âm, liễm âm khí. Trị chứng nhiệt độc, đau nhức, chứng tả lỵ, cảm mạo hư chứng. Người đau bụng đi tả do trúng hàn không dùng. Trần bì: Vị đắng cay tính ôn, vào phần khí của tỳ phế. Có tác dụng điều lý ở phần khí, hóa đờm ráo thấp, hành trệ mạnh tỳ vị, trừ đờm phát tán hàn. Trị chứng ho nôn mửa khí nghịch đau tức ngực, tiêu thực chỉ tả, nhiệt tích ở bàng quang. Không có thấp trệ, không có đờm thì không dùng. Hổ trượng: Rễ cây cốt khí của Việt Nam. Vị đắng bình hơi ôn. Giúp tán ứ khu phong lợi thấp, thông kinh. Đảng sâm: Vị ngọt tính bình vào kinh phế và tỳ. Có tác dụng bổ phế tỳ, ích khí sinh tân chỉ khát. Trị chứng tỳ hư ăn không tiêu, bụng trướng đầy, tay chân mỏi mệt hư lao, ho (có thể thay bằng sâm bố chính). Cam thảo: Vị ngọt tính bình vào cả 12 kinh lạc. Giúp bổ tỳ, nhuận phế ích tinh điều hòa các vị thuốc trong bài. Dùng sống thanh nhiệt, giải độc tiêu khát, trị ho viêm họng. Tổng bài thuốc có tác dụng: thanh nhiệt giải độc, hóa thấp, tán ứ hòa giải tam tiêu, tăng cường can đởm, làm  mạnh tỳ vị, giáng khí. Trị các chứng sốt cao ho nhiều đờm, đau tức ngực khó thở, nôn mửa, ăn uống kém, cơ thể mệt mỏi... Trong bài nhiều vị thuốc có vị đắng. Theo Đông y vị đắng phần nhiều là kháng sinh diệt khuẩn, vị cay có tác dụng giải hàn độc.  
Theo tài liệu đây là bài thuốc hỗ trợ điều trị Covid-19. Tuy nhiên, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc thuộc xứ hàn đới, người Trung Quốc có cơ địa khác người Việt Nam. Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới nên để phù hợp với khí hậu thổ nhưỡng và cơ địa của người Việt Nam bài thuốc cần gia giảm thì mới có kết quả.
 
TTND. BS. NGuyễn Xuân Hướng (Nguyên Chủ tịch Trung ương hội Đông y Việt nam)

Giới Thiệu Đồng Nhân Đường Bắc Kinh

https://www.youtube.com/watch?v=32K_G5MDFgs Nhà thuốc Đồng Nhân Đường Bắc Kinh Nhà thuốc Đồng Nhân Đường (tiếng Trung: 同仁堂, phiên âm: Tong Reng Tang) được thành lập năm 1669 năm thứ 8 Khang Hy đời Thanh, là thương hiệu đông y nổi tiếng của Y học cổ truyền Trung Quốc, người sáng lập là lương y Lạc Hiển Dương thuộc thế hệ thứ IV của nhà họ Lạc Bắc Kinh đã mở phòng thuốc Đồng Nhân Đường. Đồng Nhân Đường là nhà thuốc có nhiều bài thuốc đông y gia truyền quý, được bào chế theo công thức gia truyền bảo mật, từ năm 1723 bắt đầu được tiến cung dành riêng cho nhà vua, hoàng tộc duy trì suốt tám thế hệ vua chúa kéo dài 188 năm. Đặc biệt là bài thuốc An cung ngưu hoàng hoàn vẫn được lưu truyền đến nay và đông đảo người sử dụng tin dùng. An cung ngưu hoàng hoàn Đồng Nhân Đường đã tạo nên thương hiệu cho nhà thuốc.
  1. Lịch sử phát triển
  2. Vị thế - Uy tín hiện nay
  3. Lý do Đồng Nhân Đường thành công
  4. Sản phẩm tiêu biểu
    • An cung ngưu hoàng hoàn
    • Đại hoạt lạc đam
    • Cúc phương chí bảo hoàn
    • Tổ hợp hương hoàn
    • Sâm nhung y tế hoàn
    • Ngưu hoàng thanh tâm
Gần 300 năm lịch sử hình thành, Đồng Nhân Đường luôn đảm bảo phải tuân theo “bí quyết bào chế” riêng chính xác đến từng mili mét, không được sai lệch. Nhờ công thức độc đáo, nguyên liệu chất lượng được lựa chọn tỉ mỉ, keeys hợp với bí quyết gia truyền nên những bài thuốc của Đồng Nhân Đường có công dụng xuất sắc, đến nay được lưu hành trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Lịch sử phát triển Đồng Nhân Đường Năm 1669 (năm thứ 8 thời Hoàng đế Khang Hy của nhà Thanh), Lạc Hiển Dương thành lập Nhà thuốc Tongrentang (Đồng Nhân Đường) Năm 1702, Lạc Phụng Minh chuyển cửa hàng đến cửa trước cổng phía nam đường Dashanlan Năm 1706 Lạc Phụng Minh dựa vào phương thức truyền thống của tổ tiên để lại viết cuốn “phương pháp phối hợp dược liệu bào chế cam đan viên hoàn tán của tổ truyền dòng học Lạc Thị”, trong đó chỉ ra phương thức bào chế, sự nghiêm ngặt trong trong nguyên liệu và quy trình đào tạo người bào chế chế để thành quy tắc truyền kiếp từ thế hệ này đến thế hệ khác của Đồng Nhân Đường. Năm 1723 (Triều đại Ung Chính nhà Thanh (đích thân hoàng đế khâm định chọn Đồng Nhân Đường cung cấp dược liệu cho Ngự Dược Phòng, có phòng điều chế riêng, suốt trong 188 năm với 8 triều đại hoàng đế nhà Thanh. Năm 1907 hậu duệ thứ 12 của Đồng Nhân Đường thuộc họ Lạc thj là Lạc Đạt Thông lập Hồng tế Đường ở Ngụy Gia Trang Tế Nam cùng ‘Đồng Nhân Đường Bắc Kinh”, “Hồ Khánh Dư Đường” là 1 trong 3 nhà thuốc nổi tiếng nhất Trung Hoa bây giờ. Năm 1948 thế hệ thứ 13 của Lạc Thị là Lạc Tùng Sinh tiếp quản với tư cách giám đốc Đồng Nhân Đường. Năm 1954 Đồng Nhân Đường đi tiên phong trong hợp thức giữa tư nhân và nhà nước. Năm 1955 Lạc Tùng Sinh của Đồng Nhân Đường được Chủ tịch Mao Trạch Dân và Thủ tướng Chu Ân Lai lựa chọn làm đại biểu nhân dân TP Bắc Kinh, giữ chức Phó thị trưởng TP Bắc Kinh, UVĐBND 3 kỳ liên tiếp của Đại hội, phó CM Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại quốc gia. Năm 1957 nhà máy tinh chế chiết xuất đông dược của Đồng Nhân Đường chính thức thành lập. Năm 1979 biển hiệu, cửa tiệm của Đồng Nhân Đường được khôi phục Năm 1989 thương hiệu Đồng Nhân được Cục thương hiệu văn phòng quản lý hành chính công thương quốc gia nhận định là thương hiệu nổi tiếng do nhà nước bảo hộ. Là thương hiệu đầu tiên của Trung Quốc đăng ký quốc tế cũng là thương hiệu TQ đầu tiên đăng ký thương hiệu tại Đài Loan. Năm 1991 nhà máy dược phẩm của Đồng Nhân Đường được thăng cấp lên doanh nghiệp hạng nhất Quốc gia. Năm 1992 Chủ tịch Giang Trạch Dân tăng Đồng Nhân Đường dòng chữ “Đồng Nhân Đường phát huy truyền thống tốt đẹp về việc ưu tiên chất lượng đi đầu, và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân." Vào tháng 6 năm 1997, Công ty TNHH Đồng Nhân Đường Bắc Kinh được thành lập bởi sáu công ty tiêu biểu của tập đoàn. Vào tháng 12 năm 1997, tám dây chuyền sản xuất chính của các công ty thuộc tập đoàn đã được thông qua chứng chỉ GMP của Úc, đã đặt nền móng cho các sản phẩm của Đồng Nhân Đường dần tiếp cận và thâm nhập vào thế giới. Tháng 3 năm 2000, tòa nhà mang tên Đồng Nhân Đường được chính thức hoàn thành xây dựng. Vào tháng 5 năm 2000, Công ty TNHH Phát triển Công nghệ Đồng Nhân Đường Bắc Kinh được thành lập; tháng 10 cùng năm được niêm yết trên thị trường doanh nghiệp trẻ của Hồng Kông và cũng là công ty có cổ phiếu A đầu tiên trong nước được tách ra niêm yết thành công trên thị trường chứng khoán. Vào tháng 5, Công ty TNHH công nghệ sinh học Mạch Nhĩ Hải Đồng Nhân Đường được thành lập và bắt đầu một cuộc thăm dò sơ bộ trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Vào tháng 10, Công ty TNHH Phát triển Dược phẩm Hòa Ký Đồng Nhân Đường (Hồng Kông) được thành lập tại Hồng Kông, tạo nên một bước quan trọng cho các sản phẩm của Đồng Nhân Đường thâm nhập vào thị trường quốc tế. Tháng 6 năm 2010 phối hợp với Cục Y tế Quận Sùng Văn, Bệnh viện y học cổ truyền trung hoa Sùng Văn Đồng Nhân Đường Bắc Kinh thành lập và chính thức khánh thành vào ngày 18/6, về phương diện đông y kết hợp các dược liệu hữu cơ đã giúp cho Đồng Nhân Đường thực sự thực hiện được, đánh mốc thành công và đem lại lợi ích thiết thực của quá trình thăm dò tìm hiểu. Vị trí uy tín hiện nay Đồng Nhân Đường là thương hiệu đông y nổi tiếng nhất tại Trong Quốc, được bảo vệ thương hiệu bởi các tổ chức quốc tế, có mặt hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2006 Đồng Nhân Đường được ghi danh là Di sản văn hoa sphi vật thể quốc gia. Hiện nay Đồng Nhân Đường có hơn 600 cửa hàng tại Trung Quốc, 20 cửa hàng ở nước ngoài, 20 đơn vị liên doanh khắp thế giới, có trụ sở ở 21 quốc gia và khu vực, sản phẩm bán phổ biên sở hơn 40 quốc gia. Hệ thông dây chuyền sản xuất hiện đại với 41 dây chuyền, 26 công thức Đồng Nhân Đường trên 1000 sản phẩm khá nhau, tất cả các dây chuyền đều được đã được thông qua chứng nhận GMP quốc gia trong đó 10 dây chuyền đã thông quá chứng nhận TGA của Úc. Đồng Nhân Đường đang đứng top 50 công ty hàng đầu có triển vọng nhất Trung Quốc với ngành công nghiệp dược phẩm hiện đại, kinh doanh bén lẻ thuốc, dịch vụ y tế. Ngày 26/10/2018 Chiến lược quốc giá về Đồng Nhân Đường đã chính thức thực hiện với nhiệu vụ chăm lo sức khỏe, đảm bảo cho ra đời những sản phẩm thương hiệu tốt nhất thế giới. Lý do Đồng Nhân Đường thành công Đồng Nhân Đường được xem là thành tựu vĩ đại nhất của y học truyền thống Trung Quốc, mô tả như điều kì diệu trong lịch sử y học. Trải qua hàng trăm năm phát triển từ triều đại nhà Thanh qua những biến cố thăng trầm lịch sử nhưng Đồng Nhân Đường chưa bao giờ bất bại, ngược lại dựng lên thương hiệu Đồng Nhân Đường chuẩn chữ vàng. Một số lý do có thể được liệt kê đến như sau:
  1.  Đảm bảo chất lượng và được kiểm soát chặt chẽ trong lựa chọn nguyên liệu
Từ khi mới ra đời đã tuân thủ nguyên tắc bào chế của tổ tiên để lại, đảm bảo sự chính xác trong từng công đoạn bào chế, đào tạo người bào chế, thậm chí viết thành sách như quy định không thể thay đổi khi bào chế thuốc Đồng Nhân Đường. Hơn 300 năm để đảm bảo chất lượng, hiệu quả của thuốc Đồng Nhân Đường tập trung lựa chọn nguyên liệu rất nghiêm ngặt, 1 số loại được nghiên cứu sản xuất, nuôi trồng riêng để đảm bảo không bị ảnh hưởng bởi bất cứ tác động bên ngoài như ô nhiễm, nước bẩn.... Mỗi một nguyên liệu để đảm bảo tiêu chuẩn phải qua hàng trăm thủ tục, mỗi bộ phận chuyên trách một thủ tục trở thành hệ thống xuyên suốt nhằm đảm bảo chất lượng tốt nhất của nguyên liệu như bột ngọc trai và sừng tê giác ngoài nguồn gốc đảm bảo phải tuân thủ các quy định của Luật hiện hành.
  1.  Tiêu chuẩn vàng quốc tế
Đồng Nhân Đường không chỉ là thương hiệu thuốc nổi tiếng nhất Trung Quốc mà còn là biểu tượng của lịch sử nền y học hàng triệu năm của Trung Quốc nên đã hình thành một hệ thống văn hóa doanh nghiệp đầy tính kế thừa. Người Trung Quốc mua Đồng Nhân Đường, người nước ngoài đến Bắc Kinh cũng tham quan và lựa chọn Đồng Nhân Đường thể hiện rõ sự lớn mạnh của thương hiệu đông y số 1 Trung Quốc.
  1.  Văn hóa thương hiệu Đồng Nhân Đường
Xây dựng trêm các yếu tố:
  • Khái niệm chất lượng
  • Khái niệm độ tin cậy
  • Xây dựng hình ảnh
  • Mục tiêu kinh doanh rõ ràng
  • Nhiệm vụ của công ty
  • Quản lý niềm tin
Sản phẩm tiêu biểu  An cung ngưu hoàng hoàn Chức năng: thanh toán bù trừ đi nhiệt và giải độc, và gây sốc thị trấn. Chỉ định: sốt, nhiệt độ và ác vào bên trong một cơn đột quỵ do đờm, sốt cao, khóa hàm, co giật co giật, rối loạn ngôn ngữ chóng mặt. Một số sản phẩm An cung ngưu hoàng hoàn được người tiêu dùng đánh giá cao về chất lượng An cung ngưu hoàng hoàn Đồng Nhân Đường hộp thiếc đỏ An cung ngưu hoàng hoàn Đồng Nhân Đường hộp xanh  Đại hoạt lạc đam Chức năng: Hỗ trợ hoạt động, chắc xương. Chỉ định: Ngăn chặn nguyên nhân cơ xương, đau chân tay, tê, gân co thắt, đột quỵ, tê liệt, liệt nửa người, lắp bắp nói.  Cúc phương chí bảo hoàn Chức năng: thanh toán bù trừ đi nhiệt và giải độc. Chỉ định: sốt, nóng và đóng cửa bên trong, co giật do sốt, chóng mặt.  Tổ hợp hương hoàn Chức năng: đờm thơm, khí và đau. Chỉ định: đột quỵ, đột quỵ do nhiệt, choáng váng.  Sâm nhung y tế hoàn Chức năng: nuôi dưỡng âm và thận... Chỉ định: lá lách và thận, bộ phận cơ thể và gây ra bất hòa: cơ thể hốc hác, đau lưng hóa đá, suy nhược, hay quên, mất ngủ, chóng mặt, tối đầu, đổ mồ hôi đêm, già sớm, tốt thận lạnh l, khí thải đêm.  Ngưu hoàng thanh tâm hoàng Chức năng: hỗ trợ tim và long đờm, thị trấn kinh dị. Chỉ định: Sử dụng trong trường hợp bị rối loạn ngôn ngữ, không nhận thức, chóng mặt, co giật, động kinh, hôn mê. Xem các sản phẩm An cung ngưu Đồng Nhân Đường tại: https://www.thuoctimmach.vn/dong-nhan-duong-cp0-356 Ngoài ra còn hàng trăm các sản phẩm đông y khác. Các giải thưởng đạt được Tháng 2/1989 Đồng Nhân Đường được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng của Cục Quản lý nhà nước về Công nghiệp và Thương maik được nhà nước bảo về đặc biệt. 19/8/1992 tại Đại lễ đường của Trung Quốc chủ tịch Giang Trạch Dân viết tặng Đồng Nhân Đồng: “Tiếp tục phát huy truyền thống chất lượng của Đồng Nhân Đường, vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân sân”. Năm 1994 Ủy ban kinh tế TP Bắc Kinh, Ủy ban Công nghiệp của Tp Bắc Kinh trao danh hiệu “top 10 thương hiệu lớn nhất Trung Quốc”. Năm 1995 nhận giải thưởng “Xương sống của công nghiệp dược phẩm TQ – Top 500 doanh nghiệp nhà nước đứng đầu”. Năm 1997, Bộ Y tế tặng danh hiệu “Đơn vị tiên tiến về xây dựng văn hóa hệ thống y tế quốc gia”. Năm 1997, Ủy ban thành phố Bắc Kinh đã trao tặng danh hiệu "Đơn vị tiên tiến về công lý chính trị và tư tưởng". Năm 1998, Liên đoàn Công đoàn Quốc gia tặng "Giải thưởng Quốc gia". Năm 2000, Hiệp hội Chất lượng Bắc Kinh đã trao danh hiệu “Doanh nghiệp Tiên tiến” cho công ty. Năm 2000, Hiệp hội Quản lý Doanh nghiệp Bắc Kinh và Hiệp hội Doanh nhân Bắc Kinh đã trao cho Tập đoàn “Giải thưởng Quản lý Doanh nghiệp Xuất sắc”. Năm 2000, Cục Giám sát chất lượng và kỹ thuật đã trao cho Chủ tịch Yin Shunhai danh hiệu “Quản lý chất lượng quốc gia nâng cao công nhân”. Năm 2000, Hiệp hội Chất lượng Bắc Kinh đã trao tặng Công ty TNHH Phát triển Công nghệ Bắc Kinh danh hiệu “Doanh nghiệp Tiên tiến trong Kỷ niệm 20 năm Quản lý Chất lượng Toàn diện tại Bắc Kinh”. Năm 2001 được trao giấy chứng nhận “Doanh nghiệp công nghệ cao” do Ủy ban Khoa học và Công nghệ Bắc Kinh cấp. Năm 2001, Hiệp hội Quản lý Doanh nghiệp Bắc Kinh và Hiệp hội Doanh nhân Bắc Kinh đã trao cho Tập đoàn “Giải thưởng Quản lý Cấp cao”. Năm 2002, thương hiệu đã được Bộ Ngoại thương và Hợp tác Kinh tế trao tặng danh hiệu “Hàng hóa xuất khẩu thương hiệu nổi tiếng”. Hàng trăm thương hiệu liên tiếp nhận được từ năm 2003 đến nay ---- Mới nhất Tháng 12 năm 2007, Công ty TNHH Đồng Nhân Đường Trung Quốc đã được trao danh hiệu “Top Ten” trong Công trình xây dựng đạo đức nghề nghiệp quốc gia lần thứ 10. Vào ngày 30 tháng 7 năm 2012, danh sách “Danh sách hàng đầu Trung Quốc niêm yết có giá trị đầu tư cao nhất” do Viện nghiên cứu phát triển doanh nghiệp niêm yết Trung Quốc Đồng Nhân Đường xếp thứ 43. Vào ngày 9 tháng 5 năm 2018, Đồng Nhân Đường xếp hạng thứ 72 trong "Danh sách 100 thương hiệu hàng đầu Trung Quốc năm 2018".  

LỊCH SỬ ĐỊNH KHÔN ĐAN DANH DƯỢC TRĂM NĂM

LỊCH SỬ ĐỊNH KHÔN ĐAN - DANH DƯỢC TRĂM NĂM ▪︎ Định Khôn Đan có thành phần chủ yếu gồm: Hồng sâm, A giao, Lộc nhung, Lộc giác giao, Thục địa hoàng, Đương quy, Xuyên khung, Tam thất, Bạch truật, Phục linh, Câu kỷ tử, Đỗ trọng, Ngưu tất, Hoàng cầm, Hương phụ, Sài hồ, Ích mẫu thảo, Hồng hoa, Diên hồ sách, Kê huyết đằng cao, Bạch thược, Can khương, Tế tân, Nhục quế, Sa nhân, chích Cam thảo, Ô dược, Ngũ linh chi,... hơn 30 vị thuốc. • Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, sơ can lý khí, bổ ích tỳ thận, ôn dưỡng khí huyết • Chủ trị: phụ nữ khí huyết lưỡng hư, khí trệ huyết ứ, tình chí thất điều gây kinh nguyệt không điều, đau bụng, lạnh bụng, sản hậu hư suy, vô sinh hiếm muộn,... công hiệu rõ ràng! Định Khôn Đan luyện: Tứ Quân Tử Thang, Tứ Vật Thang (Bát Trân Thang), Thập Toàn Đại Bổ Thang, Bát Trân Ích Mẫu Tán, Tiêu Dao Tán, Sài Hồ Sơ Can Tán, Bổ Trung Thang vào làm một lò, bộ bộ vây quanh tư tưởng: “Nữ tử dĩ can vi tiên thiên”, “Nữ tử dĩ huyết vi bản”, “Tỳ vị vi khí huyết sinh hóa chi nguyên”; nhằm vào bệnh cơ chủ chốt: “Phụ nhân chi bệnh, nhân hư, tích lãnh, kết khí”; thông qua: ích khí dưỡng huyết, sơ can lý khí, bổ thận kiện tỳ; để đạt tới hiệu quả điều hòa thân tâm toàn diện cho phụ nữ. Cho nên phương này thậm chí còn được tôn gọi làm kinh điển phương trong trị liệu các bệnh lý phụ khoa cơ bản. ▪︎Ngày nay ngoài tác dụng trong điều trị bệnh lý phụ khoa, Định Khôn Đan còn được sử dụng để dưỡng nhan kháng thoái, thư sướng tình khí, hỗ trợ thụ thai, bồi bổ hậu sản hư chứng,... ... ◇ Quảng Dự Viễn Định Khôn Đan đến nay đã truyền thừa hơn 300 năm tuổi, thủ tuân cổ pháp, kế thừa truyền thống. Mật phương và kỹ thuật bào chế Định Khôn Đan được chính phủ Trung Quốc bảo vệ cấp độ 1, và duyệt vào danh mục văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, điều đó phần nào cho thấy công hiệu phi phàm của nó trong tâm thức người bản địa Lịch sử lưu truyền và công dụng của danh dược Định Khôn Đan. ◇ Dẫn: ▪︎ Thi gia nổi tiếng đời Đường - Bạch Cư Dị trong bài thơ “後宫詞 - Hậu Cung Từ” viết: 淚 濕 羅 巾 夢 不 成, 夜 深 前 殿 按 歌 聲. 紅 顏 未 老 恩 先 斷, 斜 倚 薰 籠 坐 到 明. ~ "Lệ ướt đầm khăn mộng chẳng thành, Điện ngoài ca hát rộn đêm thanh Hồng nhan chưa tắt ân tình hết, Ngồi tựa lò hương đến sáng tinh." (Dịch thơ : Đường thi trích diễm) - Bài thơ khắc họa nỗi khổ tâm can của những quý phu nhân nơi hoàng cung thâm viện thời phong kiến. ▪︎Thực tế, từ bao đời nay, những bài văn thơ nói lên tiếng lòng oán thán nơi thâm cung có rất nhiều. Điều đó đủ minh chứng cái vẻ bề ngoài tráng lệ của hoàng cung, nhưng che lấp chẳng hết sự bi ai trong nội tâm những người phụ nữ ấy. Lịch triều như cũ, chẳng hề đổi thay, đến tận triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc là Thanh triều cũng y vậy, chẳng khác. Các cung tần mỹ nữ, kẻ theo hầu bị nhốt chặt chốn thâm cung, chẳng người tâm sự, chẳng lần thánh ân, tư tưởng u uất, oán hận, khí trệ huyết ứ, dung nhan lụi tàn, nên đa phần đều mắc chứng uất huyết! ◇ Cung vi Thánh dược, Càn Long ban danh! ▪︎ Thanh sơ, Càn Long đế nhận thấy tình trạng này trong cửa hậu cung sẽ ảnh hưởng đến sự duy trì hoàng quyền và phả hệ hoàng tộc, nên vào năm Càn Long thứ 4 - tức năm 1739, nhân lúc Thái Y Viện đang triệu tập danh y toàn quốc vào cung để biên soạn bộ sách《Y Tông Kim Giám》, ông chiếu lệnh liệt việc y trị bệnh phụ khoa uất huyết vào nội dung cần nghiên cứu. Sau 3 tháng ngày đêm miệt mài tìm tòi, chỉnh lý, nghiên cứu hơn 800 bài thuốc quý tự cổ đến kim, Thái Y Viện cuối cùng đã chế xuất được một phương dược đặc biệt có tác dụng điều kinh, thư uất, lý khí, hoạt huyết; sau đem ứng nghiệm lâm sàng, nhiều lần kỳ hiệu. ▪︎Càn Long đế hay tin đại hỷ, ngự ban tên thuốc là “定坤丹 - Định Khôn Đan” ~ lấy ý: “Khôn cung đạt đáo an ninh”. Đồng thời lệnh liệt Định Khôn Đan vào “宫帏圣药 - Cung Vi Thánh Dược ”, chuyên dành nội đình sử dụng, cấm chép nhập 《Y Tông Kim Giám》, cấm truyền dân gian. ... ◇ Ngự sử cứu mẹ, thuốc truyền Thái Cốc ▪︎ Theo Thanh sử, quan Giám sát Ngự sử Tôn Diên Quỳ (孙廷夔) nguyên quán Thái Cốc, Sơn Tây, do lập nhiều công lao hiển hách nên được Càn Long đế trọng dụng, văn võ bách quan cũng kính trọng ông vài phần. Bỗng một ngày nọ, gia đinh từ quê nhà Thái Cốc xa xôi tìm đến, vào kinh bẩm báo với Tôn ngự sử rằng mẫu thân ông đang lâm bệnh trọng, đã tứ phương cầu y vấn dược, lâu ngày không đỡ. Tôn ngự sử vốn là người trung hiếu vẹn toàn, nghe tin mẫu thân sinh bệnh mà lòng ông như lửa thấu, nhiều ngày lo lắng chặng màng ăn ngủ. Đúng vào lúc khó nghĩ nhất, chợt có Thái y viện Thân tổng quản đến phủ chơi; Tôn ngự sử liền sai gia nhân thiết tiệc khoản đãi. Trong tiệc ông dãi bày tâm tư với Thân tổng quản, tấm lòng hiếu thuận, chân thành của ông khiến tổng quản cảm động vô cùng,... sau hồi suy nghĩ, Thân tổng quản đã đồng ý chép lại mật phương Định Khôn Đan và kỹ thuật bào chế tặng cho Tôn ngự sử dùng cứu mẹ. Hai ngày sau, Tôn ngự sử cầm trong tay mật phương Định Khôn Đan, liền đêm sai ngựa nhanh mang về Thái Cốc, sau cho “Bảo Nguyên Đường ” của gia đình bí mật bào chế. Tôn mẫu mới uống vài viên Đinh Khôn Đan, linh nghiệm thay bệnh chứng liền thoái tận. Hay tin, Tôn ngự sự an lòng vui sướng!... Về sau, Bảo Nguyên Đường đến độ lại bào chế một ít Định Khôn Đan cho gia quyến, bằng hữu cùng sử dụng. ▪︎ "天道好还,常与善人 - Thiên đạo hạo hoàn, thường vu thiện nhân’’”, Định Khôn Đan từ Cung đình lưu nhập Tôn thị Thái Cốc. Sau Tôn thị gia đạo trung lạc, Bảo Nguyên Đường sập đổ, Định Khôn Đan dược phương gập gềnh lạc nhập “广盛号 - Quảng Thịnh Đường” (tiền thân của Quảng Dự Viễn) dược hiệu mà lưu truyền hậu thế.

LỊCH SỬ ĐÔNG A A GIAO bí phương trường thọ

LỊCH SỬ ĐÔNG A A GIAO "A giao - huyết nhục hữu tình chi phẩm, tư bổ tối thậm!" (《Lâm Chứng Chỉ Nam Y Án》Thanh • Diệp Thiên Sỹ) 🔹 DẪN 🔎📘 Những năm Gia Tĩnh, Long Khánh, Vạn Lịch nhà Minh, y học thịnh hành trào lưu dùng thuốc “dĩ nhân bổ nhân”, như: Thu thạch, Tử hà sa,... Sống trong suốt giai đoạn ấy, Lý Thời Trân thực cảm vô cùng chán ngán trào lưu này. Cho nên, những gì liên quan tới các loại thuốc "đại bổ", ông đều rất cẩn trọng và kiệm lời luận giảng hay tán thán! • Vì vậy, trong tổng số 1892 vị thuốc cùng hơn 1 vạn phương dược của《Bản Thảo Cương Mục》, duy nhất ở mục “Phát Minh”, ông mới viện lời của Dương Sỹ Doanh tôn vinh A giao là "thánh dược". Đồng thời ông đem A giao xếp đặt trước Nhân sâm, bởi theo ông: "A giao dục thần, Nhân sâm ích khí". Điều này cho thấy, Lý Thời Trân đánh giá cao tác dụng của A giao đến mức độ nào! 🔹 NGUỒN GỐC - LƯU TRUYỀN 🔎🌿 A giao hay còn gọi là Lư bì giao, Phó tri giao, Cống giao,...đã ra đời từ lâu, tuy nhiên cụ thể từ khi nào rất khó khảo cứu rõ. • Tây Hán, Vương Lưu An《Hoài Nam Tử》có câu: “A giao nhất thốn, bất năng chỉ Hoàng Hà chi trọc” ~ dẫn dịch ra có nghĩa là: "thuốc quý có linh nghiệm đến mấy, thì tác dụng của nó cũng không phải là vô tận". Đây hiện là ghi chép sớm nhất về A giao trong sử tịch còn lưu lại đến ngày nay. • Đông Hán, thánh y Trương Trọng Cảnh lâm sàng đã nghiệm chứng công dụng của A giao. Trong bộ《Thương Hàn Tạp Bệnh Luận》, ông phối dụng A giao trong 12 bài thuốc khác nhau để luận trị nội khoa tạp bệnh, phụ khoa đa chứng. Như các danh phương: Hoàng Liên A giao Thang, Giao Ngải Thang, Chích Cam Thảo Thang của ông vẫn được y gia nhiều đời trọng dụng. • Đông Hán, sách《Thần Nông Bản Thảo Kinh》đem A giao liệt vào hàng “Thượng phẩm”, cho rằng A giao dùng lâu "thanh thân ích khí, diên niên ích thọ". • Nam Bắc triều, Đào Hồng Cảnh《Bản Thảo Kinh Sơ》viết: A giao "xuất Đông A, cố danh A Giao". • Đông A trấn nay thuộc huyện Bình Âm, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc - quê hương của chân A giao truyền thống. Ly Đạo Nguyên trong《Thủy Kinh Chú》còn ghi: "Đông A có cái giếng to như bánh xe ngựa, sâu hơn 20 mét, hàng năm lấy nước giếng này đem nấu cao dâng cống triều đình". 🔹 CỔ PHÁP BÀO CHẾ 🌿📗 Ngày nay, công nghệ bào chế chân A giao vẫn được truyền thừa và duy trì qua nhiều thế hệ người bản địa. Theo cổ pháp: “Mùa xuân hàng năm, họ tinh tuyển những con lừa đen thuần chủng khỏe mạnh, cho chúng ăn cỏ từ núi Sư Nhĩ Sơn của trấn Đông A, uống nước sông Lang Hà. Tới mùa đông thì đem giết mổ lấy da, ngâm trong nước sông Lang Hà khoảng bốn năm ngày, đem cạo lông tẩy mỡ bẩn, sau đó ngâm tẩy thêm vài ngày cho sạch, cắt miếng, dùng nước giếng A Tỉnh và nước sông Lang Hà, đun bằng củi dâu trong 3 ngày đêm, lọc bã lấy cốt trong, sau lấy chảo bạc muôi vàng, gia nước cốt Sâm, Thi (cỏ Thi), Quy, Khung, Quất, Cam,... nấu thành cao. Chân A giao có màu nâu đen hoặc đen, sắc sáng bóng, thấu minh, chất cứng dễ vỡ, vị cam hàm, khí thanh hương, không tanh hôi, qua mùa hạ mà không mềm là loại tốt. Sách thuốc các đời đều có ghi chép, các tái bản sách《 Trung Quốc Dược Điển》 cũng không dám bỏ sót A giao lần nào! 🔹 CÔNG DỤNG CHỦ TRỊ 🌿🀄 A giao cùng Nhân sâm, Lộc nhung được tôn làm "Trung dược tam bảo". Tự cổ đến nay, A giao dùng làm thuốc bổ huyết, dưỡng âm, nhuận táo, tư thận, dưỡng can, ích phế, an thai, chỉ huyết đều vô cùng hiệu quả. ➡️ Theo: •《Tân Tu Bản Thảo》:“A giao, vị cam, tính bình, vi ôn. Chủ trị tâm phúc nội băng, lao tật sái sái như ngược trạng, yêu phúc thống, tứ chi toan thống. Nữ tử hạ huyết, động thai” •《Thang Dịch Bản Thảo》: "A giao ích phế khí, phế hư cực tổn, khái thấu thóa nung huyết, phi A giao bất bổ" •《Danh Y Biệt Lục》:"trị đau bụng dưới, hư lao, gầy ốm, âm khí bất túc, chân đau không đứng được, dưỡng can khí" •《Thiên Kim · Thực Trị》:"trị đại phong" •《Bản Thảo Cương Mục》:"liệu thổ huyết, nục huyết, huyết lâm, niệu huyết, tràng phong, hạ lỵ. Nữ nhân huyết thống, huyết khô kinh nguyệt bất điều, vô tử, băng trung, đới hạ, thai tiền sản hậu chư chứng" •《Cương Mục Thập Di》:"trị nội thương yêu thống, cường lực thư cân, thiêm tinh cố thận" 🔹 PHÁP DÙNG - KIÊNG KỴ ㊙️🌿 Dương hóa đoái phục, 5 - 10g; sao A giao có thể vào thang hoặc hoàn, tán. Tư âm bổ huyết đa phần dùng sống, thanh phế hóa đàm sao Cáp phấn, chỉ huyết sao Bồ hoàng. •《Dược Tính Luận》:"A giao có Thự Dự (Hoài Sơn) làm sứ thì tốt" •《Bản Thảo Kinh Tập Trú》:"gặp hỏa thì tốt, sợ Đại hoàng" •《Bản Thảo Kinh Sơ》:"tính niêm ni, người tỳ vị hư nhược, ẩu thổ đàm ẩm kỵ dùng." 🔹 NGHIỆM PHƯƠNG LÂM SÀNG (1). Trị xuất huyết gây huyết hư: A giao đơn dụng hoặc phối Thục địa, Đương quy, Thược dược,... (《Tạp Bệnh Nguyên Lưu Tê Chúc》A Giao Tứ Vật Thang) (2). Trị khí hư huyết thiếu gây tâm quý, mạch kết đại: A giao, Quế chi, Cam thảo, Nhân sâm,... (《Thương Hàn Luận 》Chích Cam Thảo Thang) (3). Trị khái suyễn lâu ngày: A giao, Nhân sâm (《Thánh Tế Tổng Lục》A Giao Ẩm) (4). Trị phế phá khái huyết: A giao, Nhân sâm, Thiên đông, Bạch cập,... (《Nhân Trai Trực Chỉ Phương 》A Giao Tán) (5). Trị táo tà thương phế, can khái vô đàm, tâm phiền khẩu khát, tỵ táo yết can,...: A giao,Tang diệp, Hạnh nhân, Môn đông,... (《Y Môn Pháp Luật》 Thanh Táo Cứu Phế Thang) (6). Trị nhiệt bệnh thương âm, thận thủy khuy mà tâm hỏa kháng, tâm phiền thất miên: A giao, Hoàng liên, Bạch thược,... (《Thương Hàn Luận 》Hoàng Liên A Giao Thang) (7). Trị ôn nhiệt bệnh hậu kỳ, chân âm dục kiệt, âm hư phong động, thủ túc xiết túng: A giao, Quy bản, Kê tử hoàng,... (《Ôn Bệnh Điều Biện 》 Đại/ Tiểu Định Phong Châu) (😎. Trị phụ nhân lậu hạ, sản hậu hạ huyết không cầm, nhâm thần hạ huyết, hoặc nhâm thần phúc thống do bao trở: A giao, Xuyên khung, Cam thảo, Ngải diệp, Đương quy, Thược dược, can Địa hoàng(《Kim Quỹ Yếu Lược》Giao Ngải Thang) (9). Trị sản hậu hư nuy, đại tiện táo sáp: A giao, Chỉ sác, Hoạt thạch, Mật ong(《Cục Phương》A Giao Chỉ Xác Hoàn) (10).Trị nhâm thần phúc thống, hạ lỵ không cầm: Hoàng liên, Thạch lựu bì, Đương quy, chích A giao, Ngải diệp(《Kinh Hiệu Sản Bảo》) (11). Trị lão nhân, hư nhân đại tiện táo sáp: A giao, Thông bạch, Mật ong(《Nhân Trai Trực Chỉ Phương》Giao Mật Thang) 🔹 PHỤ: A GIAO TRUYỀN! 🌿📙 Từ thời Hán Đường tới thời Minh Thanh, trải qua ngàn năm truyền thừa và tích đọng, các điển tích chép về A giao vô cùng đặc sắc và phong phú! (1). Đông A Vương - Tào Thực • Tào Thực (曹植, 192 - 232), tự Tử Kiến (子建), còn được gọi là Đông A Vương (东阿王), là một hoàng thân của Tào Ngụy thời Tam Quốc. Trong số các anh em trai của mình, ông không giỏi võ bằng Tào Phi, Tào Chương, trí tuệ thì không bằng Tào Xung, nhưng lại có tài văn học bát đẩu, thất bộ xuất khẩu thành thơ. Tuy vậy, trong lịch sử ông lại được biết đến nhiều vì những giai thoại có mâu thuẫn với Tào Phi. • Tào Phi và Tào Thực vốn là hai anh em cùng do Biện phu nhân sinh ra. Theo giai thoại, nhiều lần Tào Tháo muốn phong Tào Thực làm Thế tử nối nghiệp nhưng vì có nhiều đại thần khuyên can không nên bỏ trưởng lập thứ nên mới không thực hiện việc đó. Tào Phi sợ địa vị Thế tử của mình không vững nên tìm mọi cách tranh giành để làm vừa lòng Tào Tháo. • Năm Kiến An thứ 25 (220), Ngụy vũ vương Tào Tháo mất, Thế tử Tào Phi được kế vị. Không lâu sau, Hán Hiến Đế Lưu Hiệp cũng thoái vị và nhường ngôi lại cho Tào Phi. Từ đó, Tào Phi và con là Tào Duệ kiếm đủ cách bức hại Tào Thực, buộc ông phải rời kinh đô, lưu đầy xa xứ tới trấn Đông A. • Tội nghiệp Tào Phi phải chạy ngược chạy xuôi, lo buồn tiều tụy, không có được một ngày yên tĩnh, nghỉ ngơi nên người ông gầy gộc như củi khô, khí sắc nhợt nhạt, tinh thần u uất. May thay, ông lại được người dân trấn này dâng phục A giao tư bổ, rồi cơ thể dần được cứu vớt. Cảm thán kỳ ân cứu mệnh nên trong《Phi Long Thiên 》,ông thơ viết A giao như là "tiên dược trời ban, giúp ông hồi tinh bổ não, dưỡng khí an thần". (2). A Giao Cường Binh Địch Giặc • Đường,《Nguyên Hòa Quận Huyện Chí 》có tích chép: Lý Thế Dân đem binh đánh trận qua địa phận Sơn Đông, gặp phải cường địch là Vương Thế Sung, nên quân lính bị thương vô số. Ông lệnh lui binh Đông A trấn để chỉnh quân dưỡng sức. Người dân Đông A dâng A giao làm thuốc để cường binh, quân ông đại thắng. • Sau ban sư hồi kinh, ông sai danh tướng Úy Trì Cung tới trấn Đông A, cho quân binh phong kín giếng A Tỉnh, lệnh khi nào nấu cao cống tiến mới được phép mở giếng này. Từ đó Đông A trấn là chốn quan binh cấm địa, A giao trở thành cống phẩm được Hoàng gia quý tộc độc chiếm! (3). A Giao Hiếu Kính Bậc Sinh Thành • Nam Tống,《Chu Tử Văn Tập》 có tích chép về bức thư tỏ lòng hiếu kính của danh nho Chu Hy dành cho mẫu thân. Trong thư có đoạn nhắc tới A giao rất hay thế này: "... Từ mẫu tuổi nay đã cao, nên để cho tâm bình khí thuận làm trọng. Ngày ngày nên ăn đều nhiều bữa nhỏ, hoa quả rau xanh không thể thiếu. Các thuốc như A giao, Đan sâm, có lúc nên dùng. Mẫu thân được diên niên ích thọ, con chẳng mong cầu gì hơn!" (4). Phúc Bài A Giao • Vào những năm Hàm Phong triều Thanh, Ý quý phi (sau là Từ Hy thái hậu) mang long thai, nhưng mắc phải huyết chứng, ngự y chữa trị lâu ngày không khỏi. Sau có Hộ bộ thị lang vốn người Đông A trấn là Trần Tông Quy hay tin, liền trình tấu tiến dâng A giao do Đặng Thị Thụ Đức Đường ở thành cổ Đông A bào chế cho Quý phi phục dụng. Đối chứng hạ dược, quả nhiên linh nghiệm, Ý quý phi bệnh lui, sau thuận lợi hạ sinh long tử (Đồng Trị đế sau này). • Năm 1851, Hàm Phong đế cảm ân thần hiệu của A giao nên sai ngự ban Đặng Thị Thụ Đức Đường tam bảo: một là bộ Hoàng Mã Quái tứ phẩm quan phục, hai là thiệp tiến cung, ba là ban cho Đông A A giao chữ "Phúc" làm bài hiệu. Thụ Đức Đường A giao cũng được phong làm "Cống giao" để danh vang thiên hạ. • Từ đó đến nay, chữ "Phúc" ấy vẫn luôn gắn liền với những miếng A giao chính tông như một biểu tượng cho sự tốt lành, may mắn! 🔎📘 Dẫn nguồn: vi.m.wikipedia.org; yhocbandia.vn; baike.baidu.com; zysj.com.cn; 360doc.cn; Sohu.com; weibo.com; blog.sina.com; doc88.com,...

GIẢI OAN CHO AN CUNG NGƯU HOÀNG HOÀN

🔅 GIẢI OAN CHO AN CUNG NGƯU HOÀNG Tại sao lại phải giải oan? Bởi đa số mọi người có lầm tưởng uống An cung hằng ngày để chống tai biến. Mấy hôm trước tôi lại xem video của mấy dược sĩ Tiktok thì họ lại nói An cung chứa thành phần đ.ộ.c tố nên tuyệt đối không được dùng nên tôi nghĩ chắc phải minh oan một chút cho loại thuốc quý này, đồng thời giúp mọi người biết được cách dùng chính xác để tránh lạm dụng thuốc gây tổn hại tới sức khỏe. “Nhà em có An cung ngưu hoàng được biếu, bố mẹ em uống hằng ngày để phòng chống tai biến được không ạ?” Câu hỏi này tôi được nghe liên tục từ người bệnh. Không biết từ bao giờ An cung lại trở thành thuốc uống hằng ngày được, thật đáng buồn khi một số người buôn bán thuốc hiện nay lại dám tư vấn vô tội vạ biến một loại thuốc cấp cứu thổi thành dạng thuốc như tiên dược để người cao tuổi uống liên tục. Thông tin đầu tiên ta cần phải hiểu đó chính là: An cung ngưu hoàng xuất xứ từ thời Thanh do vị danh y tên Ngô Cúc Thông đề xuất. Thành phần bao gồm: Ngưu hoàng (là sỏi trong túi mật của con trâu), Sừng tê giác, Xạ hương (là chất tiết ra từ tuyến nội tiết của con cầy hương đực, hiện nay chủ yếu dùng xạ hương nhân tạo), Hùng hoàng, Uất kim, Băng phiến, Chu sa, Trân châu, Hoàng cầm, Hoàng liên, Chi tử đều là những vị thuốc mang tính hàn lạnh khai khiếu rất mạnh, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết chấn kinh, thanh tâm hóa trọc, khai khiếu… Đây là loại thuốc quý để cấp cứu trong trường hợp đàm nhiệt nội bế, nhiệt tà nhập tâm bào gây nên sốt cao, co giật, bất tỉnh, mê sảng ở cả người lớn và trẻ em. Hôm trước có một ca bệnh tai biến nguy kịch, sốt cao, mê sảng, tay chân co giật nhưng bác sĩ lại cấm người nhà cho dùng An cung để điều trị khiến tôi khá tiếc nuối. Tuy nhiên họ nghiêm cấm cũng không có gì là lạ, người Việt chúng ta lạm dụng thuốc quá nhiều, nhất là An cung ngưu hoàng. Và chắc chắn một điều rằng, họ đã gặp không ít trường hợp nguy kịch do dùng An cung không đúng cách, gây hậu quả nghiêm trọng. Chính vì vậy mới khuyến cáo người nhà không được sử dụng. Tôi quan sát nhiều năm thấy một hiện tượng: Phàm những thứ có tác dụng tốt thì người ta thường hay đồn thổi đến mức vượt quá đi đi tác dụng thật của nó. An cung cũng giống như các nghệ sĩ vậy, sẽ bị dính các loại tin đồn khiến thiên hạ điên đảo, và các bác sĩ lại bị nhiều phen bối rối. Tôi sẽ điểm mặt qua những câu hỏi thường gặp để mọi người hiểu rõ hơn, đồng thời giải oan cho vị thuốc quý này. 👉Tác dụng chính của An cung ngưu hoàng là gì? Giảm tỉ lệ tử vong, giảm nhẹ di chứng tai biến. 👉An cung ngưu hoàng hoàn thích hợp dùng cho bệnh nhân xuất huyết não hay bệnh nhân thiếu máu não? Đáp án của chúng tôi là cả hai trường hợp đều có thể sử dụng. Nhưng vấn đề làm sao cùng một loại thuốc có thể hiệu quả đối với cả hai căn bệnh trái ngược nhau như xuất huyết não và thiếu máu não? Dưới đây, tôi sẽ giải đáp thắc mắc này một cách chi tiết để mọi người hiểu rõ hơn. Lâm sàng thường thấy 2 loại: đột quỵ xuất huyết và đột quỵ thiếu máu. Đột quỵ xuất huyết dựa vào vị trí vỡ nứt của mạch máu, có thể chia thành xuất huyết nội sọ và xuất huyết dưới màng nhện. Xuất huyết nội sọ có 80% do cao huyết áp, những nguyên nhân khác: u não, rối loạn đông máu, huyết khối tĩnh mạch, xuất huyết não trong vùng bị nhồi máu chuyển dạng xuất huyết… khiến cho các mạch máu trong não bị vỡ nứt, máu chảy vào cấu trúc bên trong não, gây nhiễm trùng. Điều này có thể gây ra chóng mặt, buồn nôn, mất ý thức và thậm chí tử vong. Còn vùng dưới màng nhện thực ra là bề mặt gấp của não, là khu vực giữa não bộ và các mô màng bao phủ não. Xuất huyết dưới nhện thì phần lớn trường hợp do dị dạng mạch máu não, cụ thể là phình mạch máu não, khiến máu chảy vào không gian này gây cản trở lưu thông dịch não, dẫn đến những triệu chứng như đau đầu kịch liệt, nôn mửa, hôn mê, tê liệt và thậm chí là tử vong. Bây giờ chúng ta đã hiểu rõ về đột quỵ xuất huyết, tiếp theo hãy nói về đột quỵ thiếu máu. Đột quỵ thiếu máu thường diễn ra do các mạch máu trong não bị tắc nghẽn bởi chất lạ, chia thành hình thành huyết khối não và tắc mạch máu não. Hình thành huyết khối não là loại phổ biến nhất, thường do mạch chủ não hoặc các nhánh mạch máu ở vỏ não bị xơ hóa và co lại, gây tắc nghẽn và hình thành huyết khối, làm giảm lưu lượng máu hoặc ngừng cung cấp máu cho một khu vực cụ thể của não, gây ra thiếu máu và thiếu oxy cho các mô não, gây ra tổn thương thần kinh ở các vùng. Đơn giản mà nói, các mạch máu trong não thu hẹp do tình trạng xơ hóa và hình thành huyết khối, gây giảm lưu lượng máu hoặc ngừng cung cấp máu gây thiếu máu cục bộ cho một khu vực cụ thể của não. Tắc mạch máu não là khi các cục máu khác nhau bám trên thành mạch từ tim, cục máu trong các cục mạch xơ hóa hoặc mỡ, tế bào ung thư, sợi sụn hoặc không khí và những thứ tương tự được đưa vào động mạch não bị tắc, đồng thời các nhánh phụ không thể bù đắp thiếu hụt, gây ra tổn thương mô não do thiếu máu. Trong Đông y dùng thuốc không phải là xuất huyết thì cho thuốc đông máu, tắc ứ thì dùng thuốc hoạt huyết, An cung cũng vậy, điều chúng ta cần hiểu là tác dụng của nó không như các dạng thuốc hoạt huyết hay thuốc đông máu. Đối với đột quỵ xuất huyết não, An cung có thể hỗ trợ giảm được nồng độ nước xung quanh mô não tổn thương, nâng cao khả năng biến hình của tế bào hồng cầu để giảm nhẹ tình trạng phù não, đồng thời bảo vệ mô não khỏi tổn thương thứ phát. Đối với tai biến do thiếu máu, An Cung sẽ tăng thời gian sống và khả năng chống oxi hóa tổng hợp của các tế bào não bị tổn thương, từ đó có tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh. Trên lâm sàng có thể dùng An cung ngưu hoàng hoàn cho các tai biến mạch máu não bao gồm xuất huyết não, xuất huyết dưới nhện, nhồi máu não, huyết khối não và thiếu máu não tạm thời thuộc chứng nhiệt bế như sốt cao, co giật, hôn mê, nói sảng.... Tuy nhiên do thành phần cấu thành An cung đều là các vị có tính hàn cực mạnh nên sẽ không phù hợp với chứng hàn bế và chứng thoát trong tai biến, do vậy cần hết sức cẩn trọng tìm đến sự tư vấn của bác sĩ trước khi sử dụng. 👉Triệu chứng của Tai biến do hàn bế (hàn chứng) là gì? Thân nhiệt bình thường, sắc mặt xanh tối, môi tím đen, rêu lưỡi trắng dày, tay chân lạnh ngắt. Hôm trước có người nhà bệnh nhân gọi đến để hỏi ý kiến khi bệnh nhân đang có những biểu hiện trên nên đã kịp thời ngăn lại họ dùng An cung, thật sự may mắn khi có người nhà sáng suốt như vậy. 👉Triệu chứng của Tai biến do chứng thoát là gì? Mắt hơi mở, miệng hơi há, tay buông thõng mở ra, hít vào ít thở ra nhiều, mồ hôi trên người vã ra nhiều và có cảm giác dính. 👉An cung ngưu hoàng hoàn có thể hạ huyết áp không? Nếu huyết áp đột nhiên tăng cao, đồng thời kèm theo đau đầu kịch liệt, chóng mặt, nôn mửa, dùng An cung có thể có tác dụng hạ huyết áp. 👉Tiền tai biến là gì? Nếu như người bệnh có tiền sử cao huyết áp, mỡ máu cao, khi xuất hiện các triệu chứng như méo miệng, khó nói, tê bì tay chân, đau đầu, chóng mặt… có khả năng bị tiền tai biến, đề xuất gọi điện cho bác sĩ để được hướng dẫn dùng An cung ngưu hoàng và tới bệnh viện kiểm tra kịp thời, lúc này An cung ngưu hoàng có thể giảm nhẹ xuất huyết não và hình thành huyết khối. 👉Bệnh nhân tiền sử tai biến bị liệt nhiều năm có thể dùng An cung không? Có thể dùng trong trường hợp huyết áp tăng cao khó kiểm soát để xử lý tại chỗ phòng tránh tái phát tai biến, nhưng nếu quan sát thấy cơ thể suy nhược, khí yếu, tiêu hóa kém, tiêu chảy thì không nên sử dụng. 👉Có nên dùng An cung thường xuyên không? An cung ngưu hoàng hoàn là thuốc cấp cứu, không phải thực phẩm chức năng hay thuốc bổ. Thành phần cấu tạo có nhiều vị thuốc tính hàn rất mạnh, đồng thời có cả các thành phần như: hùng hoàng, chu sa, xạ hương... Đây đều là các dược liệu có độc tính và khi dùng phải có sự kiểm soát chặt chẽ về liều dùng, đường dùng, thể chất, tình trạng sức khỏe của người bệnh và phải có sự tư vấn cẩn thận của bác sĩ khi sử dụng. Do vậy An cung không được dùng uống thường xuyên để đề phòng đột quỵ như nhiều người vẫn lầm tưởng. NẾU DÙNG KHÔNG ĐÚNG CÁCH SẼ G Y NÊN NHỮNG TAI HẠI NGHIÊM TRỌNG VÀ NGUY HIỂM ĐẾN TÍNH MẠNG. Bất kể vị thuốc quý nào đều giống như thanh kiếm sắc lẹm, nếu biết cách dùng đúng lúc, đúng thời điểm, đúng thể trạng sẽ có thể cải tử hoàn sinh, cứu vớt được sinh mệnh; còn nếu dùng sai cách không những không chữa được bệnh mà còn gây nên những hệ quả khó lường. An cung ngưu hoàng hoàn được coi là sản phẩm tinh hoa của Đông y cần được trân trọng và tôn trọng tác dụng thực sự của nó. Tôi không mong muốn những thông tin thiếu chính xác sẽ khiến cho mọi người lao theo hay lạm dụng vô tội vạ dẫn đến tiền mất tật mang, càng không muốn vì một vài lời đồn hay từ những ca bệnh dùng sai cách mà mọi người phủ định giá trị chữa bệnh của phương thuốc này.

Trương trọng cảnh và thương hàn tạp bệnh luận

https://www.youtube.com/watch?v=YeBL5XcZE4k Tác giả: P'medic. Cùng thời kỳ với Hoa Đà, còn có một Danh Y tên là Trương Trọng Cảnh được coi là "Y thánh". Đó là Trương Cơ - người Nam Dương, tác giả cuốn Kinh Điển Y Học Trung Hoa "Thương Hàn Tạp Bệnh Luận". Trương Cơ, tự Trọng Cảnh, là người Niết Dương quận Nam Dương ở cuối thời Đông Hán, sinh vào thời Hán Hoàn Đế khoảng giữa thế kỷ thứ 2 và đầu thế kỷ thứ 3, khoảng trước sau năm 20 Kiến An thời Hán Hiến Đế. Trương Trọng Cảnh sống vào cuối đời Đông Hán, quân phiệt hỗn chiến, đời sống bấp bênh, chiến loạn và thiên tai triền miên, hơn nữa dịch bệnh hoành hành, đã đem lại thảm họa nặng nề cho người dân.   Là người chứng kiến xã hội bấp bênh, Trương Trọng Cảnh đã rời bỏ lý tưởng chính trị, một lòng dốc sức vào việc nghiên cứu Y Học. Tài chẩn đoán của Trương Trọng Cảnh rất cao siêu. Nghe nói khi hành y, Ông gặp một thanh niên tên là Vương Xán mới hơn 20 tuổi, thấy anh khí sắc kém, liền nói: "Anh có bệnh, khi 40 tuổi lông mày rụng rơi, nửa năm sau sẽ chết vì bệnh bất trị. Bây giờ nếu uống Ngũ Thạch Thang sẽ khỏi". Nghe xong Vương Xán trong lòng không vui, tuy nhận thuốc nhưng không uống. 3 ngày sau hai người lại gặp nhau, Trương Trọng Cảnh hỏi: "Uống thuốc chưa?" Vương Xán đáp: "Đã uống rồi". Trương Trọng Cảnh than rằng: "Xem ra hình như anh chưa uống, bạn trẻ này, sao lại coi nhẹ tính mạng mình thế?" Vương Xán cậy mình khỏe, vẫn không tin. Không ngờ 20 năm sau lông mày của anh quả nhiên rụng rơi, lại qua 187 ngày, Nhà Văn Học lớn từng viết các tác phẩm nổi tiếng như"Đăng Lầu Phú","Thất Ai Thi"v.v. này đã lìa cõi đời. Cống hiến lớn nhất của Trương Trọng Cảnh là đã biên soạn cuốn "Thương Hàn Tạp Bệnh Luận". Thương hàn là loại bệnh sốt nóng ngoại cảm, gồm nhiều bệnh truyền nhiễm cấp tĩnh. Có thể nói sự ra đời của cuốn "Thương Hàn Tạp Bệnh Luận" là sản vật của thời đại và phấn đấu của cá nhân. Nhà Khí Tượng học nổi tiếng Trung Quốc, Trúc Khả Trinh cho rằng: khí hậu trong thời Đông Hán có xu thế rét lạnh, có mấy mùa đông rét buốt, Quốc đô Lạc Dương thậm chí còn mưa tuyết trong cuối thời Xuân Thu, làm nhiều người chết rét. Khí hậu rét lạnh, khiến dịch bệnh do cảm lạnh gây nên hoành hành khắp nơi. Bắt đầu từ vua Linh Đế cuối thời Đông Hán, từng xảy ra nhiều đợt dịch bệnh lớn.Các Nhà Văn Học Từ Cán, Trần Lâm, Ứng Xướng, Lưu Trinh được gọi là "Thất Tử Kiến An" đã lần lượt chết vì dịch bệnh. Có 2/3 trong tổng số hơn 200 người của gia tộc Trương Trọng Cảnh cũng đã chết trong vòng chưa đầy 10 năm, mà 70 % là chết vì bệnh thương hàn. Trước cảnh người dân và người thân bị ma dịch cướp đi tính mạng, Ông Trương Trọng Cảnh đã quyết tâm tổng kết và chỉnh lý thành quả Y Học trong dân gian cũng như kinh nghiệm thực tế của mình trong nhiều năm hành y, tìm ra cách chữa có hiệu quả cho người bệnh và đem lại hạnh phúc cho người dân. Thời Nhà Hán là một giai đoạn phát triển quan trọng của môn Y Dược Học Trung Hoa, Chuyên tác Y Học "Hoàng Đế Nội Kinh" và trước tác Dược Học "Thần Nông Bản Thảo Kinh" sớm nhất được Trung Quốc bảo tồn đến nay đều được sáng tác vào thời kỳ này. Cuốn "Hoàng Đế Nội Kinh" gọi tắt là "Nội Kinh", là tác phẩm bàn về Y Học của các học giả thời nhà Hán được hoàn thành với danh nghĩa của Hoàng Đế và Hạ thần Kỳ Bá. Cuốn "Nội Kinh" dùng tư tưởng âm dương ngũ hành được lưu hành từ thời Xuân Thu và Chiến Quốc để giải thích hiện tượng tính mạng cũng như hoạt động sinh lý con người, đồng thời còn liên hệ giữa chức năng của ngũ tạng với môi trường bên ngoài như khí hậu, bốn mùa, mùi vị, màu sắc v.v., cho rằng hình thể con người đều là âm dương đối lập. Cuốn "Nội Kinh" còn lấy 4 loại hình: hư, thực, hàn, nhiệt để phân biệt bệnh tật, cho rằng: "Trăm bệnh xảy ra, đều có hư thực", "Dương thắng thì nhiệt, âm thắng thi hàn". Cuốn"Nội Kinh"đã đặt ra lý luận cơ bản cho Y Học Trung Hoa, cũng đã xác định nguyên tắc quan trọng về chẩn đoán và chữa trị. Song lý luận Y Học của cuốn "Nội Kinh" rất huyền bí, cho nên ứng dụng lý luận Y Học trong cuốn"Nội Kinh"vào việc chữa bệnh lâm sàng, nhất là vận dụng các bài thuốc hay được lưu truyền trong dân gian vào thực tế, là một vấn đề bức xúc cần được giải quyết. Trương Trọng Cảnh đã hấp thụ đầy đủ thành quả Y Học của các đời trước, lại khiêm tốn học hỏi các bài thuốc hay lưu truyền trong dân gian, "Bác thái chúng phương", đã bước đầu tổng kết nguyên tắc "Biện Chứng Luận Trị" và viết thành cuốn "Thương Hàn Tạp Bệnh Luận". Đến đời nhà Tống, có người tách phần tạp bệnh ra khỏi "Thương Hàn Tạp Bệnh Luận", soạn thành cuốn "Kim Quỹ Yếu Lược", cuốn "Thương Hàn Luận" và cuốn" Kim Quỹ Yếu Lược" đã được lưu truyền đến nay. Trương Trọng Cảnh chia bệnh ngoại cảm thành 6 loại theo đặc trưng cơ bản, đó là bệnh Thái dương, Dương minh, Thiếu dương, Thái âm, Thiếu âm và Quyết âm. Mỗi loại đều có cách chữa riêng và đều có chủ chứng phản ánh tình hình cơ chế bệnh lý, chẳng hạn như chủ chứng của bệnh Thái dương là sợ lạnh, sốt nóng, đau khớp v.v., chủ chứng của bệnh Thiếu dương là miệng đắng, cổ khô, mắt hoa v.v.. Như vậy, theo tình hình người bệnh có thể xác định thuộc loại bệnh gì. Đây là biện chứng. Trương Trọng Cảnh nhìn nhận sự diễn biến của bệnh tình bằng quan điểm biện chứng chất phác, cho rằng 6 loại bệnh này không phải cô lập, bệnh chứng theo bệnh tà khác nhau, thể chất người bệnh khỏe hay yếu, thời gian chữa bệnh cũng như biện pháp thích đáng hay không v.v. có thể chuyển hóa cho nhau, Ông coi hai loại bệnh chứng cùng xuất hiện là "Hợp Bệnh", hai loại bệnh chứng lần lượt xuất hiện là "Bính bệnh", chẩn sai chữa sai là "Hoại Bệnh", lần lượt chữa bằng các thang thuốc khác nhau. Để phân tích bệnh tình một cách tường tận và khoa học, nắm được cả quá trình bệnh tật, chăm chú theo dõi nguyên nhân, thời gian phát bệnh, trạng thái lúc đầu, trạng thái thay đổi và hiệu quả chữa trị, Ông Trương Trọng Cảnh đã nêu ra phương pháp biện chứng được các người đời sau gọi là "Bát Cương", đó là Biện Âm Dương, Định Trong Ngoài, chia Hư Thực, biện Hàn Nhiệt. Trong thời Chiến Quốc, cách chẩn đoán: Vọng, Văn, Vấn, Thiết , tức nhìn, ngửi, nghe, hỏi, bắt mạch, được người ta gọi là phương pháp "Tứ Chẩn" đã định hình, trong cuốn "Hoàng Đế Nội Kinh" cũng có ghi chép tường tận. Kết hợp với kinh nghiệm chữa bệnh của mình, Trương Trọng Cảnh đã nâng cao môn Chẩn Đoán Học tới một trình độ mới, đã cung cấp bằng chứng cho việc Luận Trị Biện Chứng. Về cách chữa bệnh, Trương Trọng Cảnh đã sáng tạo 8 cách là: Hãn, Thổ, Hạ, Hòa, Ôn, Thanh, Bổ và Tiêu, được người đời sau gọi là "Bát Pháp". Đây là "Luận Trị". Cách Hãn là dùng thuốc làm cho người bệnh ra mồ hôi. Cách Thổ là dùng thuốc khiến người bệnh nôn mửa chất độc và thức ăn khó tiêu trong dạ dày. Cách Hạ là dùng thuốc uống hay thuốc bôi ngoài khiến người bệnh tháo dạ. Cách Hòa là điều hòa và hóa giải, dùng thuốc khá ôn hòa để giảm nhẹ bệnh tình. Cách Ôn là dùng thuốc ôn nhiệt trợ giúp dương khí và trừ khử hàn tà. Cách Thanh là dùng thuốc hàn mát chữa bệnh nhiệt nóng bên trong. Cách Bổ là dùng thuốc bổ khí huyết âm dương tạng phủ không đủ để khôi phục cân bằng âm dương hoặc phù chính khử tà. Cách Tiêu là dùng thuốc tiêu dẫn và tan kết đọng để chữa các chứng đầy hơi, ngưng nước, đọng máu, tích thực v.v.. Cuốn "Thương Hàn Tạp Bệnh Luận" cũng có thành tựu nổi bật về mặt dùng thuốc, cả thảy đã ghi 375 bài thuốc và 214 loại thuốc, còn quy định khá nghiêm ngặt khi pha chế, lượng thuốc, thay đổi hay thêm bớt của loại thuốc. Trương Trọng Cảnh được các người đời sau gọi là Ông Tổ của Phương Tế Học, đến nay một số bài thuốc vẫn còn sử dụng. Cuốn "Thương Hàn Tạp Bệnh Luận" đã tổng kết một cách hệ thống lý luận Y Học và kinh nghiệm chữa bệnh lâm sàng trước đời nhà Hán, đã đặt cơ sở cho Trị Liệu Học Trung Y, người đời sau có cách nói: "Lý có "Nội Kinh", Pháp nhờ Trọng Cảnh". Trong thời kỳ hơn 1700 năm sau, cuốn sách này không ngừng được chỉnh lý và chú giải, theo thống kê có đến hơn 700 trước tác nghiên cứu. Cuốn "Thương Hàn Tạp Bệnh Luận" lưu truyền ra nước ngoài, trong đời nhà Đường, tăng lữ văn học Nhật đem cuốn sách này về Nhật, đã gây ảnh hưởng quan trọng cho sự phát triển của cuốn "Hán Phương Y" của Nhật. Thuở nhỏ ham học, mười mấy tuổi đầu đã thông hiểu nhiều sách, nhất là sách về y học. Đời Hán Linh đế, ông được tiến cử chức Hiếu Liêm, về sau là Thái thú Trường Sa. Nhưng cả đời ông chủ yếu là theo sự nghiệp y học. Lúc nhỏ, ông từng đọc thấy trong sách sử chuyện Biển Thước xem biết bệnh của Tề Hoàn hầu, ông hết sức khâm phục y thuật cao siêu của Biển Thước, giỏi xem khí sắc của người mà chẩn đoán bệnh tật, và nảy sinh ý niệm học ngành y. Ông theo học thuốc với người đồng hương là danh y Trương Bá Tổ, được thầy truyền dạy kinh nghiệm và kỹ thuật. Ông học giỏi đến mức, về mặt chẩn đoán và ra đơn thuốc điều trị vượt hơn cả người thầy. Ông hành nghề vào cuối đời Đông Hán. Lúc đó, các nước tranh nhau, chiến tranh liên miên làm cho bệnh dịch lưu hành, người ta chết rất nhiều, thậm chí chết hết cả họ. Gia tộc của ông có hơn 200 ngươi,từ năm Kiến An (công nguyên 196) đến sau, chưa đầy 10 năm đã chết mất hai phần ba, trong đó chết vì bệnh thương hàn là bảy phần mười. Trước cảnh tượng đau thương ‘người đắm chìm trong tang tóc, muốn cứu mà không cứu được, ông càng quyết tâm tìm học. ông nghiên cứu sâu về các sách y học xưa như ‘Tố Vấn’, ‘Cửu Quyển’, ‘Bát Thập Nhất Nan’, ‘Âm Dương Đại Luận’, ‘Thai Lô Dược Lục’, rút ra những hiểu biết phong phú, rồi thu nhặt các phương thuốc danh tiếng xưa nay và các phương thuốc kinh nghiệm trong dân gian, kết hợp với kinh nghiệm của các y gia đương thời và của mình đã tích lũy trong nhiều năm, biên soạn một bộ sách thuốc vĩ đại chưa từng có ‘Thương Hàn Tạp Bệnh Luận’ bao quát hai phần là ‘thương hàn’ và ‘tạp bệnh’. Sách viết xong, trải qua binh hỏa chiến loạn, bị mất đi phần nào. Về sau, ở đời Tấn, Vương Thúc Hòa lượm lặt, chỉnh lý, viết lại. Đến đời Tống là hai quyển sách thuốc hiện còn đến nay là  ‘Thương Hàn Luận’ và ‘Kim Quỹ Yếu Lược’. Quyển ‘Thương Hàn Tạp Bệnh Luận’ của Trương Trọng Cảnh đã tổng kết một cách có hệ thống những kinh nghiệm phong phú của ngành y học Trung Quốc từ đời nhà Hán trở về trước, xác định nguyên tắc cơ bản của Trung y, biện chứng điều trị, đã phong phú hóa và phát triển lý luận y học và phương pháp trị liệu, đặt vững cơ sở các khoa lâm sàng của Trung y, là một bộ kinh điển y học trứ danh. Bộ sách đã cống hiến lớn lao cho sự phát triển học thuật Trung y. Hơn 1700 năm nay, sách này luôn được y giới các đời tôn sùng. Trước mắt, sách này vẫn là một tài liệu dạng học kinh điển chủ yếu của Học viện Trung y Trung Quốc. Đối với y học thế giới, nhất là sự phát triển ngành y của các nước châu Á, sách ‘Thương Hàn Tạp Bệnh Luận’ cũng có ảnh hưởng sâu xa. Nhật Bản đến nay vẫn thích dùng các đơn thuốc của Trương Trọng Cảnh để trị bệnh. Hai bài thuốc nổi tiếng của Trương Trọng Cảnh Trong giới y học cổ truyền Việt Nam chắc không ai là không biết, không thuộc hai bài thuốc cổ phương Bát vị và Lục vị, một bài đại diện cho chứng âm hư, một bài đại diện cho chứng dương hư. Nhưng xuất xứ 2 bài thuốc thì chưa chắc ai cũng biết. Vậy 2 bài thuốc cổ phương này ra đời trong hoàn cảnh nào? Năm 2006 trước Công nguyên thời Tây Hán, Hán Vũ Đế tên thật là Lưu Triệt, sách sử ghi rằng Lưu Triệt muốn cho mình khỏe mạnh, cải lão hoàn đồng nên đã uống nhiều “đan sa”, biến chứng phát sốt dữ dội, khát nước nhiều, đi tiểu liên tục mà không thuốc nào chữa khỏi. Trương Trọng Cảnh bấy giờ là đại phu chữa bệnh cho Lưu Triệt đã nghĩ ra hai phương thuốc: bát vị và lục vị. Nhờ thế mà nhà vua đã khỏi bệnh. Nguyên văn hai bài thuốc như sau: “Bài thuốc Bát vị quế phụ”: Thục địa 8 chỉ, hoài sơn 4 chỉ, sơn thù 4 chỉ, đan bì 3 chỉ, trạch tả 3 chỉ, bạch linh 3 chỉ, quan quế 1 chỉ, phụ tử 1 chỉ.Tất cả 8 vị thuốc tốt nên gọi là bát vị. Cách sao tẩm như sau: Thục địa thứ tốt tẩm gừng tươi sao khô. Hoài sơn tẩm nước cơm sao khô. Sơn thù bỏ hạt, tẩm rượu sao khô. Trạch tả tẩm nước muối loãng sao khô. Bạch linh tẩm sữa con so sao khô. Phụ tử đã chế mới đem dùng. Chủ trị: Chân thận hỏa hư, chân thủy vượng làm cho mỏi mệt. Hạ bộ hàn lãnh, đau lưng, mỏi gối, lưng lạnh, đái đêm nhiều. Đại tiện phân lỏng, bần thần nặng đầu, hay quên, lừ đừ, ngái ngủ. Bài thuốc tồn tại cho tới ngày nay đã hơn 2000 năm. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác khi xưa đánh giá rất cao bài bát vị và đã dùng bài thuốc này chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm. Ông dùng bài “bát vị” làm xương sống, căn cứ vào chứng mà gia giảm. Sau đây là phép gia giảm của Hải Thượng Lãn Ông: - Tạng thận yếu mà đi lị lâu tăng vị Thăng ma, Phá cố chỉ đều 2 chỉ (2 chỉ = 3,75g). - Mạch xích 2 bên hồng mà sác là chân âm kém, bội Quế, Phụ tử lên 2 chỉ. - Mạch bộ thốn bên trái vô lực là khí, tạng can suy nhược, bội Sơn thù lên 3 chỉ. - Mạch bộ quan bên phải vô lực là tỳ vị hư yếu, bội Phục linh, Trạch tả lên 2 chỉ. - Hỏa dạ dày quá mạnh mà thành hoàng đản, sốt về chiều, miệng lở, chóng đói, bội Mẫu đơn. - Khí dạ dày yếu mà lạnh (hư hàn), đầy trướng, sôi bụng bội Phục linh, Trạch tả lên 2 chỉ, lại bội Quế, Phụ tử thêm 1 chỉ. Dương suy, tinh kém thêm Lộc nhung, Tử hà sa. Tạng thận yếu không đem được nguyên khí về chỗ, đi tiểu nhiều, thở suyễn, nôn ọe bội Ngũ vị tử, Ngưu tất. “Bài lục vị” Trương Trọng Cảnh dùng bài “bát vị” nhưng bỏ đi 2 vị Quế và Phụ tử. Còn lại 6 vị gọi là bài “Lục vị”. Bài thuốc: Hoài sơn 4 chỉ, Thục địa 8 chỉ, Sơn thù 4 chỉ, Đan bì 3 chỉ, Trạch tả 3 chỉ, Bạch linh 3 chỉ. Chủ trị: Thận thủy suy kém, tinh khô, huyết kiệt đau lưng, mỏi gối, di tinh, khát nhiều, đái rắt, can thận suy yếu, hoa mắt, chóng mặt, phát sốt, nóng âm, da, tóc khô xỉn, mắt mũi nám đen, lưỡi khô ráo khát. Đối với phụ nữ nhan sắc ngày càng tàn tạ, nóng nảy, các chứng trẻ em chậm biết đi, tóc mọc chậm, chậm biết nói... Phép gia giảm của Hải Thượng Lãn Ông: - Người gầy đen, khô táo thêm thục địa, bớt Trạch tả. - Tính nóng nảy, hay cáu giận bớt Sơn thù thêm Đan bì, Bạch thược, Sài hồ mỗi vị 2 chỉ. - Lưng mỏi thêm Đỗ trọng tẩm muối sao. - Tì vị hư yếu, ăn ít mà ngoài da lại khô xỉn tăng Hoài sơn. - Chứng đại đầu thống (nhức đầu quá mạnh), nếu người bệnh yếu lắm không nên dùng nhiều thuốc lạnh, mát mà chỉ nên dùng lục vị nhưng bội thêm Thục địa, Mẫu đơn bì, Trạch tả, Huyền sâm, Ngưu tất mỗi vị 3 chỉ. Nếu hỏa quá mạnh thêm Tri mẫu, Hoàng bá mỗi vị 2 chỉ. - Phụ nữ huyết khô, kinh bế, thiếu máu, xây xẩm ăn kém thêm Xuyên quy, Bạch chỉ mỗi vị 2 chỉ, Quế tốt 1 chỉ. - Chứng bạc đầu, rụng tóc thêm Hà thủ ô 2 chỉ nhưng phải uống cho nhiều (vài chục thang) có thể hồi xuân. - Mờ mắt thêm Kỷ tử, Cúc hoa, Sài hồ, mỗi vị 2 chỉ. Hải Thượng Lãn Ông nói: Tôi kinh nghiệm hằng 30 năm, chữa khỏi được nhiều bệnh trầm trọng, cũng chỉ căn cứ vào 2 khiếu âm và dương, cũng chỉ trông vào 2 bài “bổ thủy và bổ hỏa” (Bát vị và Lục vị) khác biệt với các thầy khác mà thôi! Vậy thủy hỏa là căn bản để sinh ra con người, nhưng thủy là chân của hỏa cho nên phải tương giao mà không lìa được nhau. Lại phải quân bình mà không bên nào được hơn lên. Tính của hỏa bốc lên thì phải đem trở xuống. Tính của thủy nhuận xuống thì phải đem trở lên. Hỏa ở trên, thủy ở dưới gọi là tương giao tức thủy hỏa ký tế (nước và lửa đã làm xong việc). Hỏa ấy gọi là dương khí, thủy ấy gọi là âm khí, 2 bên cần phải có nhau, dựa vào nhau thì gọi là âm dương hòa bình. Người nào chân âm của tạng thận không đầy đủ tức bổ mạch xích bên trái hư yếu, đi tế, sác thời dùng bài “Lục vị”. Còn người nào chân dương không đầy đủ, tức hỏa mệnh môn không được đầy, bổ mạch xích bên phải đi tế, sác thì dùng bài “Bát vị”. Hải Thượng Lãn Ông nói thêm: Xem như thế mới biết bách bệnh đều bởi hư yếu mà ra. Mà hư yếu phần nhiều bởi tạng thận. Nội kinh nói: “Gặp chứng hư yếu phải bội tạng thận để giữ lấy mệnh môn". Nội kinh nói thêm: “Việc làm thuốc mà biết được yếu lĩnh thì mọi cái là xong. Không biết được yếu lĩnh thì man mác vô cùng!”. Hải Thượng Lãn Ông kết luận: “Đem phương pháp để chữa một bệnh suy rộng ra có thể chữa được bách bệnh. Mà phương pháp chữa được bách bệnh về căn bản cũng như chữa được một bệnh vậy!”.   DANH SƯ CAO ĐỒ Trương Trọng Cảnh từ nhỏ theo Trương Bác Tổ học y. Trương Bá Tổ vừa là thầy lại vừa là bác của Trương Trọng Cảnh, rất nghiêm khắc đối với Trọng Cảnh. Trương Trọng Cảnh ban ngày theo bá phụ trị bệnh cho dân chúng, buổi tối dưới ánh đèn chăm chỉ học y thư, nên y thuật tiết bộ rất nhanh. Một hôm, gặp một bệnh nhân cao tuổi, thầy và trò thấy tinh thần người bệnh ủy mị, môi miệng khô, trán nóng bỏng tay. Trương Bá Tổ sau khi khám nói rằng: “Bệnh tà đã nhập vào vị tràng, nhiệt thịnh thương tân, phân khô không thể tống ra, chỉ có dùng thuốc tả hạ mới có thể cho đại tiện thông sướng. Nhưng bệnh nhân tuổi cao, thân thể lại hư, uống thuốc tả hạ có thể chịu được không, cân nhắc nhiều lần, không đưa được chủ ý. Trương Trọng Cảnh đứng ở bên cạnh, thấy bác mình bó tay ngồi nhìn nghĩ một lát, nói với bác: “Cháu có một cách”, rồi nói rành rọt cách nghĩ của bản thân cho bác nghe. Trương Bá Tổ nghe xong phấn khởi nói: “được! cháu mau đi trị bệnh đi”. Trương Trọng Cảnh cầm lại một thìa mật ong, cho vào trong một nồi đồng, một mặt đun nhỏ lửa, một mặt dùng đũa quấy đảo. Ước chừng sau qua một khắc, mật ong nấu thành dạng hồ sền sệt đặc dính. Nhân lúc còn nóng, nặn mật ong thành dải nhỏ dài, nhét nhè nhẹ vào trong hậu môn bệnh nhân. Khoảng qua thời gian một bữa cơm, trong bụng của bệnh nhân phát ra tiếng lục bục, rất nhanh, đi ngoài ra một đống phân, bệnh tình giảm nhẹ một nửa, chưa được vài ngày, người bệnh khỏe lên. Trương Bá Tổ xem cháu dùng phương pháp điều trị kỳ diệu như vậy trị khỏi bệnh, nói một cách phấn khởi “tài quá, cháu mạnh dạn sáng tạo như vậy, có người kế tục Trung Y rồi”.
Back to Top
Product has been added to your cart