Những vụ án liên quan Xyanua nổi tiếng trong lịch sử
Cyanide đóng vai trò là “sát thủ” trong lịch sử
Vài ngày sau vụ nổ Tân Hải thành phố Thiên Tân, 700 tấn natri xyanua cực độc đã trở thành nguồn nguy hiểm lớn nhất. Việc phát hiện và xử lý chúng đúng cách đã trở thành chủ đề được mọi người quan tâm nhất. Mọi người đều lo lắng rằng các hóa chất độc hại ở mức độ này sẽ gây ra nhiều thảm họa thứ cấp nghiêm trọng hơn cho con người. Vì tính chất cực độc của nó, nhiều cái chết trong suốt lịch sử có liên quan đến xyanua. Từ Göring, nhân vật số 2 của Đức Quốc xã, đến Turing, cha đẻ của máy tính hiện đại; từ phòng hơi ngạt ở Đức cho đến những điệp viên ám sát của KGB. Cyanide đã là kẻ giết người từ lâu trong thế kỷ trước. Cyanide là một trong những chất độc mạnh nhất và tác dụng nhanh nhất mà con người biết đến. Một người có thể tử vong do vô tình nuốt phải 50 miligam xyanua; chất này có trong nhiều loại thuốc diệt chuột mạnh; nếu nuốt phải một lượng vừa đủ chất này, bệnh nhân sẽ bất tỉnh ngay lập tức và chết (ngộ độc xyanua kiểu đột quỵ). Vì độc tính nhanh và gây chết người nên những người tham gia vụ đánh bom vali năm 1944 của lãnh đạo Đức Quốc xã Adolf Hitler đều mang theo xyanua để có thể tự sát ngay sau khi bị kẻ thù phát hiện, không cho kẻ thù có cơ hội thẩm vấn. Tờ New York Times ngày 4/8/1987 đưa tin số liệu thống kê cho thấy trong số các nhà hóa học tự sát, hơn 40% tự sát bằng xyanua. Một trong những người nổi tiếng nhất là Carothers, nhà khoa học trưởng của Phòng thí nghiệm DuPont ở Hoa Kỳ, người phát minh ra nylon, người đặt nền móng cho việc sản xuất cao su tổng hợp hiện đại. Ông gặp phải "sự cản trở của nhà phát minh" và quyết định tự tử bằng cách uống kali xyanua hòa tan trong nước chanh trong một khách sạn vào năm 1937. Câu chuyện về Alan Turing, cha đẻ của máy tính hiện đại, còn đáng buồn hơn: Năm 1952, ông bị kết tội “có hành vi thô tục và không đứng đắn” sau khi thừa nhận có quan hệ tình dục với một người đàn ông khác. Bị buộc phải lựa chọn giữa 18 tháng tù và thiến y tế (uống estrogen, v.v.), anh đã chọn cái sau. Vào ngày 8 tháng 6 năm 1954, Turing không thể chịu đựng được sự sỉ nhục và trừng phạt của phiên tòa và đã kết thúc cuộc đời mình bằng cách ăn một quả táo tẩm xyanua.
ảnh minh họa phim người giải mã diễn viên Benedict Cumberbatch vào vai Alan Turing
Ngoài ra còn có những nhân vật chính trị trong số những người tự sát bằng xyanua: Sau phiên tòa kéo dài 11 tháng, Tòa án Quốc tế Nuremberg, được thành lập sau Thế chiến thứ hai, đã kết án tử hình Hermann Goering, người đứng thứ hai của chế độ Đức Quốc xã, và đang chuẩn bị tự sát vào tháng 10 năm 1946. Bị xử tử vào ngày 15. Nhưng hai giờ trước khi hành quyết, cai ngục phát hiện ra rằng Goering đã tự sát bằng cách uống xyanua. Mặc dù nguyên nhân cái chết của Adolf Hitler còn là điều bí ẩn, nhưng trong số rất nhiều suy đoán, thuyết phục nhất là việc ông ta đầu tiên uống thuốc xyanua rồi tự sát, giết chết ông ta hoàn toàn. Trớ trêu thay, trong quá trình tàn sát hàng triệu người Do Thái và người Di-gan từ năm 1940 đến năm 1945, Đức Quốc xã đã sử dụng một lượng lớn loại khí giết người có tên Zyklon B, cũng là một loại xyanua: khí axit cyanic. Những kẻ chủ mưu của Đức Quốc xã này cuối cùng đã chết vì chất độc giống như nạn nhân của chúng. Chất xyanua có độc tính cao không chỉ là nhân vật chính trong các câu chuyện tự sát mà ngoài việc được sử dụng rộng rãi trong nạn diệt chủng Holocaust của Đức Quốc xã, nó còn được sử dụng từ lâu như một ứng cử viên cho các vụ ám sát và đầu độc. Ở nước Nga thời Sa hoàng, xyanua được giới quý tộc sử dụng để ám sát chính trị. Grigory Yefimovich Rasputin, "ma thuật" dẫn đến việc lật đổ quyền lực của đế quốc Sa hoàng, bị chết đuối vào tháng 12 năm 1916 sau khi ăn phải chất xyanua được các quý tộc bất mãn với ông cho vào thức ăn. Ở Liên Xô sau này, cơ quan tình báo "KGB" kế thừa "truyền thống" sử dụng xyanua của nước Nga thời Sa hoàng. Một sĩ quan KGB đã sử dụng súng hơi được thiết kế đặc biệt để ám sát hai nhà bất đồng chính kiến người Ukraine ở Đức vào năm 1957 và 1959. Loại súng hơi đặc biệt này bắn ra những "đạn" xyanua. Sau khi súng hơi được bắn ra, chất độc do viên nang xyanua nghiền nát tạo ra sẽ tiêm vào mặt đối phương, chất độc sẽ khiến tim ngừng đập. Điều này có thể ngụy trang một cách thuận tiện nguyên nhân cái chết của nạn nhân là một cơn đau tim. Các cơ quan tình báo Hoa Kỳ cũng rất thành thạo về ngộ độc xyanua. Theo các tài liệu CIA được giải mật, vào tháng 3 năm 1962, CIA đã cử người tới âm mưu đầu độc cựu lãnh đạo Cuba Castro bằng cách sử dụng viên nang chứa xyanua nhưng không thành công. Thời kỳ "Chiến tranh Lạnh" là đỉnh cao của việc sử dụng xyanua trong các vụ ám sát. Sau khi "Chiến tranh Lạnh" kết thúc, vị thế "vũ khí ám sát" của xyanua bắt đầu suy giảm. Mặc dù xyanua có tốc độ nhanh và gây chết người nhưng nếu nạn nhân không ăn quá nhiều, cái chết sẽ không xảy ra ngay lập tức và có thể cứu sống bằng cách điều trị y tế. Năm 2005, một đồ uống bị đầu độc ở Đài Loan, Trung Quốc. Người đầu độc đã sử dụng xyanua. Vụ tai nạn khiến 1 người tử vong và 10 người bị bệnh nặng. 10 người bị bệnh nặng sau đó có mức độ di chứng khác nhau nhưng rất may không ai tử vong. Ngoài ra, một số nạn nhân chết vì ngộ độc xyanua bị bao quanh bởi mùi hạnh nhân đắng đặc trưng của xyanua, mùi này có thể dễ dàng vạch trần âm mưu ám sát. Vì vậy, những vụ ám sát sử dụng xyanua hiện nay rất hiếm. “Giết người” chỉ là “công việc phụ” của xyanua. Cyanide thực sự là một nguyên liệu hóa học cơ bản quan trọng. Ví dụ, natri xyanua chủ yếu được sử dụng trong tổng hợp hóa học cơ bản, mạ điện, luyện kim và tổng hợp hữu cơ của y học, thuốc trừ sâu và chế biến kim loại. Hiện nay, công dụng chính của natri xyanua là chiết xuất vàng, vì vậy, cần sự quản lý nghiêm ngặt hơn nữa trong việc sử dụng Xyanua.
(tên khoa học là Calculus Bovis) bản thân là sỏi mật của các loài trâu, bò, tê giác. Khi đem phân tích, Ngưu hoàng có chứa nhiều thành phần như acid cholic, acid desoxycholic, acid taurocholic, bilirubin, nhiều acid amin, một số khoáng chất như Fe, Ca, Mg,…
Y học cổ truyền đã biết sử dụng Ngưu hoàng làm thuốc từ rất lâu. Ngay trong Bản Kinh, một trong các y văn cổ nhất của y học cổ truyền Trung Hoa đã viết về công dụng của Ngưu hoàng là chủ trị "nhiệt thịnh kinh hoảng" (tương ứng với các triệu chứng sốt cao, mê sảng, bất tỉnh nhân sự như biểu hiện bệnh đột quỵ). Tương truyền thần y Biển Thước (401 - 310 tr.CN, Trung Quốc) là người đầu tiên sử dụng Ngưu hoàng trong điều trị đột quỵ, và người bệnh chính là người hàng xóm của ông.
02. Giai thoại
Chuyện kể rằng trong lúc vội vã, người con trai của ông hàng xóm đã lấy nhầm viên Ngưu hoàng (vốn được coi là 1 vị thuốc chữa đau răng vào thời đó) thay cho Thanh mông thạch đưa cho Biển Thước làm thuốc cấp cứu cha mình. Vị thần y không có thời gian kiểm tra lại, nhanh chóng tán nhỏ làm thuốc và cho người bệnh uống. Sự việc chỉ được phát hiện khi người bệnh nhanh chóng hồi phục, và khiến vị danh y vô tình tìm được thêm 1 vị thuốc quý.
Biển Thước đã kết luận "do Ngưu hoàng được ngâm trong túi mật của con bò trong suốt một thời gian dài nên tính hàn của nó có thể thấu tới tim gan người bệnh. Nó có thể lọc tim, thông mạch, điều hòa gan và chữa liệt".
Như vậy có thể thấy rõ các thầy thuốc đông y đã khẳng định Ngưu hoàng là vị thuốc mang tính Hàn rất mạnh, và do đó thích hợp cho trường hợp hôn mê do Nhiệt. Từ đó có thể suy ra nếu người bệnh hôn mê do những nguyên nhân khác thì dùng bài thuốc chứa Ngưu hoàng không có nhiều ý nghĩa. Đặc biệt với những người trúng phong hàn, cảm lạnh, cũng bị hôn mê ngất xỉu, mà lại cho dùng Ngưu hoàng thì còn gia tăng độ nghiêm trọng của bệnh.
Hai bài thuốc y học cổ truyền nổi tiếng nhất có vị thuốc ngưu hoàng có tên gọi An cung ngưu hoàng hoàn và Ngưu hoàng thanh tâm.
Nhờ hiệu quả đã được chứng minh và công nhận, mà 2 cái tên này đã trở nên quen thuộc với người dân nói chung, người mang nhiều yếu tố nguy cơ tai biến mạch máu não (tiểu đường, máu nhiễm mỡ, cao huyết áp…), người cao tuổi và gia đình người thân có những đối tượng như trên nói riêng.
Tuy nhiên cũng do có quá nhiều nguồn thông tin không có chuyên môn mà rất ít người có hiểu biết đầy đủ về An cung ngưu hoàng hoàn và Ngưu hoàng thanh tâm. Do đó đã xảy ra nhiều tai nạn đáng tiếc ở người bệnh dùng không đúng cách 2 sản phẩm trên. Để sử dụng đúng, tận dụng được hết tác dụng của thuốc, người bệnh cần có sự tham vấn của nhân viên y tế.
04. Quy trình sản xuất viên thuốc an cung ngưu hoàng hoàn
Nền y học Trung Quốc có những loại thuốc kỳ diệu và bí ẩn - Thuốc chiết xuất từ động vật -
Nhựa cóc (thiềm tô): Nhựa tập trung ở 2 túi chứa tại các bướu phía sau tai. Lấy nhựa bằng cách rửa sạch vùng da, lau khô, kích thích tuyến sau tai cho tiết nhựa ra, hứng vào vật chứa bằng sành, sứ hoặc thủy tinh (nếu dùng vật chứa bằng sắt hoặc kim loại thì nhựa biến màu thành đen). Nhựa mới lấy có màu trắng đục, sau quánh dần rồi ngả màu nâu, vị đắng, có thể gây nôn, nếu văng vào mắt sẽ có cảm giác cay, tê. Thiềm tô có tính độc (độc bảng A, gồm bufogenin, bufotalin, bufotoxin, gammabufotoxin, vulgarobufotoxin).
Theo y học cổ truyền, nhựa cóc có tác dụng tiêu thũng, giải độc, giảm đau, chống tích trệ, làm mạnh tim. Dân gian dùng nhựa cóc trị mụn nhọt, lợi răng sưng đau... Một bài thuốc Đông y kinh điển là Lục thần hoàn, có tác dụng trị cảm sốt nặng, mê man, kinh giản, suy tim; thành phần dược liệu bao gồm xạ hương, trân châu, băng phiến, nhựa cóc và ngưu hoàng.
02. Những nghiên cứu khoa học về huachansu


















Đĩa đệm được cấu tạo bởi 2 đĩa sụn, tiếp giáp với xương đốt sống. giữa 2 đĩa sụn trên và dưới là bao xơ. Bao xơ là một cấu trúc giống cái kén tằm, khá dai chắc, bên trong chứa một chất giống như tròng trắng trứng, gọi là nhân nhầy. Đĩa đệm là một đĩa ngăn cách giữa 2 đốt sống, vừa bảo đảm cho các đốt sống có thể gấp duỗi được, vừa chịu trách nhiệm phân bố bớt lực khi cột sống bị tác động.
Thoát vị đĩa đệm là hiện tượng bao xơ bị rách, nhân nhầy thoát ra, tạo thành một khối, chèn ép lên các rễ thần kinh trong ống sống, từ đó gây ra các triệu chứng như đau thần kinh tọa (nếu ở lưng), đau cổ vai tay (nếu ở cổ), tê, yếu hoặc liệt, giảm hay mất cảm giác, suy hô hấp, rối loạn tiêu tiểu...
Ở mặt sau đĩa đệm, tức mặt trước của ống sống, nơi đĩa đệm tiếp xúc với ống sống, có một dây chằng khá chắc chắn, ngăn cách đĩa đệm và ống sống, gọi là dây chằng dọc sau. Dựa trên mối tương quan giữa khối thoát vị, bao xơ và dây chằng dọc sau, người ta phân loại khối thoát vị theo những thể khác nhau.
Thoát vị đĩa đệm dạng lồi là khi bao xơ bị rách không hoàn toàn, đĩa đệm phình ra, gọi là lồi đĩa đệm. Khi bao xơ bị rách hoàn toàn nhưng dây chằng dọc sau còn nguyên, nhân nhầy thoát ra và nằm phía dưới dây chằng dọc sau, gọi là thoát vị đĩa đệm dạng vỡ. Nếu dây chằng dọc sau bị rách, nhân nhầy chui qua đó, gọi là thoát vị qua dây chằng dọc sau. Còn khi mà khối thoát vị qua dây chằng dọc sau, nhưng có một mẩu đứt rời và di lệch đi xa, gọi là thoát vị có mảnh rời (hình).
Theo một số nghiên cứu của các tác giả Hoa kì, 70% dân số bị thoát vị đĩa đệm. Rất may là 1/3 số người bị thoát vị đĩa đệm không có triệu chứng gì. 1/3 khác thì có triệu chứng như đau nhức nhưng sau khi ngủ dậy vươn vai một cái là hết. Chỉ có 1/3 còn lại là cần đến thầy thuốc, và trong số cần đến thầy thuốc, chỉ có rất ít người phải mổ. Người ta tính, số người phải mổ thoát vị đĩa đệm chỉ bằng 1% số người bị thoát vị đĩa đệm. Ở Việt nam, với dân số là 94 triệu người, như vậy chúng ta có gần 22 triệu người bệnh thoát vị đĩa đệm cần đến thầy thuốc, và 658.000 người thực sự cần mổ thoát vị đĩa đệm.
22 triệu người bệnh thoát vị đĩa đệm cần đến thầy thuốc sẽ đến các thầy võ, thầy trật đả, thầy lang, các nhà xoa bóp, bấm huyệt, và các bác sĩ đông tây y, vật lí trị liệu… Và đại đa số trong 22 triệu người ấy hết bệnh, hay các triệu chứng không còn. Đó cũng là cơ hội để các "nhà" này quảng cáo mình, và cho là mình giỏi hơn các "nhà" khác nếu gặp bệnh nhân được các "nhà" khác chữa mà không khỏi.
Một số người bệnh không hết đau và các triệu chứng không giảm. Nếu có yếu cơ, liệt, teo cơ, giảm hay mất cảm giác, rối loạn tiêu tiểu, mất khả năng đi lại, mất khả năng ngồi, đứng, nằm, hoặc không thể làm việc... các nhà Phẫu thuật cột sống sẽ ra tay. Tuy nhiên, nếu chỉ có đau mà thuốc và vật lí trị liệu thất bại, nên tiêm thấm (tiêm vào ống sống), nếu không hết thì mới mổ.
Có nhiều phương pháp mổ. Từ mổ hở thông thường, mổ vi phẫu, mổ xâm lấn tối thiểu (Metrx) và mổ nội soi. Mổ nội soi là phương pháp ít xâm lấn nhất, và được coi là tiên tiến nhất. Do mổ nội soi là phương pháp khó áp dụng, chưa phổ biến, nên mổ vi phẫu vẫn được coi là tiêu chuẩn vàng. Các phương pháp sử dụng laser, sóng radio cao tần... được xem là không có giá trị đối với những trường hợp thoát vị đĩa đệm nặng, nhất là khi khối thoát vị đã xé rách dây chằng dọc sau.
Cần lưu ý, thoát vị đĩa đệm là bệnh của người trưởng thành cho tới trung niên (20 đến 40 tuổi), ngược lại với bệnh lí hẹp ống sống, thường gặp ở người bệnh lớn hơn 40 tuổi. Hai bệnh lí này có phương pháp điều trị không mổ giống nhau, nhưng cách mổ lại hoàn toàn khác nhau. Trong thoát vị đĩa đệm, sụn còn nguyên, bao xơ chỉ bị rách ở một vị trí. Còn trong bệnh lí hẹp ống sống, cả sụn, bao xơ đều bị vỡ vụn.
Nếu được chẩn đoán đúng, không bị nhầm lẫn với hẹp ống sống, gần như không có khả năng tái phát thoát vị đĩa đệm sau mổ, do nhân nhầy đã được lấy đi hết.